Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

Đại hội vợ các nhà văn

Truyền hình trực tiếp
Nguyễn Quang Lập 
NQL: Bài ni tui viết lâu rồi, đăng lại để lưu, kẻo sợ mất.
 Xin chào tất cả các bạn! Tôi muốn nói rằng, vâng, tôi muốn nói rằng tôi đang đứng trước hội trường Ha Dong Lion.

 Điều đó có nghĩa là gì? Vâng, có nghĩa là chúng ta đang có mặt tại Đại hội vợ nhà văn lần thứ I. Đây là đại hội hết sức quan trọng, nhằm tổng kết một giai đoạn lịch sử vợ các nhà văn đã dan díu giữ gìn dìu dắt các nhà văn như thế nào, và qua đó, vâng, tất nhiên qua đó đề ra phương hướng hoạt động cho giai đoạn tới.

 Ờ… vâng, trước khi vào đại hội có rất nhiều khán giả, đọc giả viết thư hỏi chúng tôi tại sao lại tổ chức đại hội vợ các nhà văn, có phải vợ các nhà văn đang làm cái việc ôm rơm rậm bụng không? Khờ khờ… một câu hỏi rất thú vị. Rơm ở đây là gì, vâng, tôi muốn nói rằng rơm ở đây là gì. Tất nhiên rơm ở đây là chồng của các bà vợ nhà văn rồi.

 Tôi đang dứng trước bà Trần Thị Thướt Tha, vợ nhà văn trinh thám loại hảo hạng, ông luôn luôn cho chúng ta biêt trước cuối cùng chuyện sẽ xảy ra như thế nào, giúp chúng ta không phải hồi hộp, khỏi tăng huyết áp.

- Vâng… chào bà…

 - He he chào anh… anh lổi tiếng quá… cho em sờ tay anh cái…he he

 - Vâng… khờ khờ…bà rất vui tính. Xin bà cho biết vì sao phải tiến hành đại hội vợ các nhà văn?

 - Dạ bá cáo anh… tiến hành chớ sao không tiến hành, ông bà ta từng nói không vợ ra chợ mà ở. Người thường đã thế, nhà văn cần vợ hơn người thường là nẽ tất nhiên.

 - À vâng… có người nói làm thế là ôm rơm rậm bụng… bà nghĩ sao?

 - Lói hay chưa, rơm là chồng chúng tôi, có rậm bụng cũng phải ôm, chúng tôi không ôm thì ai ôm! Vâng, thưa các bạn, bà Trần Thị Thướt Tha đã nói rất chân thành, rất thấu tình, rất đạt lý.

Và bây giờ, thưa các bạn và bây giờ chúng ta quay lại hội trường. Các bạn thấy hai khẩu hiệu lớn treo hai bên hội trường, vâng, chúng tôi muốn nói đó là hai câu khẩu hiệu lớn. Nhất vợ nhì trời và kính vợ đắc thọ. Khờ khờ khờ… hai câu khẩu hiệu rất độc đáo, rất tuyên ngôn, rất bặm trợn…

 Vâng, đây rồi, tôi đang đứng trước bà Nguyễn Nghiêm Ngắn, vợ nhà thơ trào phúng, đọc thơ ông chúng ta không cầm được nước mắt.

- Thưa bà… bà nghĩ gì về câu ca dao chồng ta áo rách ta thương,chồng người áo gấm xông hương mặc người…

- Đó là một tất yếu lịch sử.

 - À vâng, nhưng thưa bà… trong thời kì nền kinh tế thị trường, loại áo gấm xông hương ngày càng phát triển, có xu hướng ngày càng chèn ép loại áo rách, đấy là các nhà văn không chịu viết kịch bản phim ti vi và các nhà thơ không chịu viết báo, liệu quan niệm như thế có lỗi thời không?

 - Không. Chồng ta áo rách ta thương, chồng ta áo gấm xông hương ta càng thương hơn.

Tuyệt vời!! Thưa các bạn, đó là câu trả lời rất trung thực, rất tuyệt vời, rất sâu sắc. Điều đó có nghĩa là gì? Điều đó cho thấy vợ các nhà văn rất muốn tiến từ xông hương lá sả lên xông hương nước hoa Pháp. Vâng tôi muốn nói rằng việc các nhà văn viết kịch bản phim ti vi và các nhà thơ viết báo là một tất yếu lịch sử.

 Chúng tôi còn biết các nhà văn nhà thơ hiện nay rất tích cực tổ chức thi hoa hậu từ thiện, trình diễn thời trang từ thiện, ca nhạc từ thiện… vân vân và vân vân. Ngoài ra họ còn đua nhau vẽ tranh trừu tượng. Vì sao không vẽ tranh tả thực? Vâng, khơ khơ khơ, lại một câu hỏi rất thú vị. Chúng tôi nghĩ rằng vẽ tranh tả thực vừa khó vẽ vừa khó bán, hay nói đúng hơn, thưa các bạn hay nói đúng hơn, tranh tả thực vừa không vẽ được vừa không bán được. Vâng đó cũng là một tất yếu lịch sử.

Thưa các bạn! Chúng tôi thấy về dự đại hội có 927 đại biểu, trong đó có 201 đại biểu chính thức, đó là những đại biểu đang là vợ các nhà văn, 726 đại biểu danh dự, đó là các đại biểu đã từng là vợ nhà văn… Con số này phản ánh thực trạng bi thiết nền văn học nước nhà. Tuy nhiên, vâng, thưa các bạn tuy nhiên, số đại biểu là khách mời dự bị, đó là đại biểu hoặc đang yêu hoặc sắp cưới các nhà văn: 3212 đại biểu! Vâng, thưa các bạn, một con số rất, rất và rất ấn tượng, cho thấy văn chương vẫn có khả năng làm mụ mị các trái tim chân dài như thế nào.

Và đây nữa, thưa các bạn và đây nữa, 201 đại biểu chính thức đều mặc áo dài tím. Màu tím có nghĩa là gì? Đó là màu của lòng chung thủy sắt son, màu của lý trí quản lý cảm xúc, màu của ý chí quyết tâm theo chồng đến cùng, một tấc không đi một ly không rời.

 Và bây giờ, thưa các bạn, và bây giờ chúng tôi muốn nói giờ khai mạc đã điểm. Bà Phạm Phổng Phao, trưởng ban tổ chức đại hội, đọc diễn văn khai mạc. Bà là vợ nhà văn siêu việt, chuyên chuyển các phim chưởng Hồng Kông thành các áng văn Việt ấm áp tình người, sau khi đã việt hóa tên nhân vật.

Diễn văn của bà có tựa đề rất hoành tráng: Xây dựng nền văn hóa vợ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với ba trục chủ đề chính gọi là ba kiên quyết:

 - Kiên quyết nói không khi chồng hỏi tiền đâu.

 - Kiên quyết bảo vệ đồ cũ, không để cho chồng lén lút vứt đi. Đồ nhiều nhà chật cũng ừ, quyết tâm chất đống cực chừ sướng sau.

 - Kiên quyết mặc cả đến hơi thở cuối cùng. Tiết kiệm là quốc sách, hễ ra chợ là phải mặc cả, không sờn lòng không tiếc tuổi xanh.

Diễn văn của bà Phạm Phổng Phao vừa dứt, một dàn kèn đồng tấu vang hành khúc Không cho chúng nó thoát, bản nhạc chủ đề của đại hội.

Và bây giờ, thưa các bạn và bây giờ là phần sôi nổi nhất của đại hội: tham luận, tham luận và tham luận!

Thưa các bạn bản tham luận đầu tiên đã gây sốc đối với nhưng nhà văn đã là chồng, những nhà văn đang là chồng và những nhà văn sẽ là chồng. Vâng, chúng tôi muốn nói đến bản tham luận: Đập tan luận điệu văn mình vợ người! Đó là tham luận của bà Ngô Nghiệt Ngã, bà là vợ nhà thơ tuyệt hảo, ông đã kết hợp tài tình thơ người và thơ mình để tạo nên những vần thơ bất hủ, suýt nữa được đem vào giảng dạy trong nhà trường.

 Bản tham luận của bà Ngô Nghiệt Ngã được thực hiện theo phương thức của Bao Công đại nhân: Lý luận đi đôi với nhân chứng vật chứng. Bà nói chính chủ nghĩa sô vanh của tư bản đế quốc đã tạo ra lý thuyết văn mình và lối sống bệnh hoạn Tây Môn Khánh của bọn hủ nho phong kiến đã khiến các nhà văn đồng sàng dị mộng với vợ mình.

Vật chứng bà đưa ra là 117 cái bát, 19 bộ ấm chén, 40 cái đĩa, 62 chai rượu… tất cả đều vỡ tan tành. Đó là kết quả việc bạn chồng bà chê thơ chồng bà tại nhà bà. Vâng, thưa các bạn, điều đó giải thích vì sao nền văn học nước nhà luôn luôn mơ ước bao giờ cho đến ngày xưa. Và bây giờ chúng tôi thấy Bà Ngô Nghiệt Ngã đã gọi bà Thân Thị Thảm Thương lên diễn đàn.

 Bà Thân Thị Thảm Thương là vợ nhà phê bình thuộc trường phái dọn vệ sinh, theo chủ thuyết: bẩn thỉu không tự nhiên xuất hiện không tự nhiên mất đi, nó chỉ biến từ dạng này sang dạng khác, từ nhà mình sang nhà người. Rất ngạc nhiên, vâng, rất ngạc nhiên, chúng tôi thấy bà Thân Thị Thảm Thương dắt lên một con hươu sao, vâng, thưa các bạn đúng là một con hươu sao.

 Bà Thân Thị Thảm Thương đang ôm con hươu sao nức nở khóc. Bà đang nói, chúng ta hãy nghe bà nói.

 - Dạ thưa bà con, à quên… thưa đại hội, chuyện như ri: Thời tui còn trẻ, chồng tui mần thơ tặng tui tràng giang đại hải, không cách chi nhớ như hết, tui chỉ nhớ mấy câu ni: “Em thiên thần vĩ đại của em, thế giới không có em thế giới thành vô nghĩa.” Chừ tui tra rồi, chồng tui hết mần thơ, chuyển sang mần phê bình. Anh ta muốn mần chi thì kệ cha anh ta, tui chỉ căm tức khi quê tui phát động phong trào nuôi hươu sao, anh ta nói với bạn bè: tau ước răng sáng mai ngủ dậy, nằm bên tau không còn mụ vợ tra của tau nữa, mà là một con hươu sao….

Cả hội trường xôn xao, th ưa quí vị cả hội trường đang xôn xao.

- Thưa chị em… thưa đại hội… cứ tình trạng như ri thì chị em mình răng rồi cũng bị đem đi đổi vẹt Nam Mỹ, chó Nhật Bản, mèo Đài Loan… hu hu hu hu…

Cả hội trường bỗng òa khóc nức nở, vâng, chúng tôi thấy hết thảy đại biểu đều ôm nhau khóc rất, rất và rất khí thế. Điều đó có nghĩa là gì? Điều đó chứng tỏ nước mắt của phụ nữ là vũ khí vô cùng đặc sắc, vô cùng độc đáo và vô cùng nguy hiểm. Nhưng bây giờ đã hết thời gian buổi sáng, điều đó có nghĩa là gì, có nghĩa là, vâng thưa các bạn, có nghĩa là các đại biểu của chúng ta phải nghỉ ăn trưa và cho chồng con bú. Xin chào và hẹn gặp lại!

Xin chào tất cả các bạn!

Vâng, trong giờ nghỉ trưa người không có phở thì về nhà ăn cơm, kẻ không có cơm thì bỏ nhà đi ăn phở, nhưng ai nấy đều có bữa trưa vui vẻ. Vâng, khờ khờ, fast food thì bao giờ cũng ngon, có phải không các bạn?

 Điều cho thấy, vâng, điều đó cho thấy phần thảo luận buổi chiều nay sẽ diễn ra rất sôi nổi, sẽ có tham luận lấy tư cách cơm để đả phá phở, có tham luận lấy tâm trạng phở để phán đối cơm… khờ khờ khờ, rất vui.

 Và bây giờ, vâng tôi không biết nói gì hơn là phải nhắc lại khẩu lệnh nổi tiếng đã làm nên tên tuổi tôi, vâng, thưa các bạn, và bây giờ chúng ta tiếp tục theo dõi các bản tham luận! Vâng, bây giờ chúng tôi thấy bà Lý Long Lanh đang lên diễn đàn. Bà là vợ nhà thơ hậu hiện đại, thơ ông đọc rất hay nhưng không ai hiểu gì hết, vâng, đó là bí quyết của hậu hiện đại. Tham luận của bà Lý Long Lanh có tiêu đề Về quan niệm sai lầm: một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp.

 Bà kể chồng bà hễ đăng được một bài thơ, lập tức thực hiện phương châm một miếng giữa làng. Nhuận bút được một trăm nghìn, ông đã mua một trăm tờ báo để tặng bạn bè hết năm triệu năm trăm ngàn đồng, tổ chức cuộc nhậu với hai mươi thực khách hết hai triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn đồng chưa kể tiền gia vị, chưa kể tiền cà phê, tiền tiết canh lòng lợn, tiền bia hơi chả cá đãi đằng các biên tập viên tổng cộng lên tới năm triệu hai trăm chín mươi hai nghìn đồng. Thật kinh khủng, thưa các bạn thật kinh khủng, để có một miếng giữa làng nhà thơ hậu hiện đại đã đánh đổi hơn mười triệu đồng, trong khi quà sinh nhật cho vợ là một bông hồng nhỏ giá năm ngàn đồng, mua khéo chỉ ba ngàn rưỡi…thì không có.

- Chúng tôi không cần bông hồng, bá cáo đại hội chúng tôi không cần bông hồng…

Vâng, thưa các bạn, người đang nói là bà Vũ Vân Vê. Bà là vợ nhà nghiên cứu phê bình cấp tướng, ông luôn có các đường dây nóng lên cấp trên, sẵn sàng ứng phó với những nhà văn lạc hậu, chậm tiến. Đề tài của bà Vũ Vân Vê rất nóng hổi, vâng, cực kì nóng hổi.

 - Chúng tôi không cần bông hồng, hoa hoét làm cái gì trong khi các ông chồng chuyên lậu thuế. Thuế môn bài trốn, thuế thu nhập cá nhân trốn, thuế giá trị gia tăng trốn nốt, thử hỏi chúng tôi làm vợ để làm cái gì.

Khờ khờ khờ đây là đề tài rất nhạy cảm, vâng thưa các bạn rất rất và rất nhạy cảm, chúng tôi không biết ban tổ chức đại hội có cho bà Lý Long Lanh tiếp tục không.

 Có, thưa các bạn, đại hội đang rất rất và rất hưởng ứng, bà Lý Long Lanh vẫn tiếp tục phát biểu:

- Thưa đại hội, đêm nào đêm nấy nó nốc cho lắm vào rồi ngủ say như chết, cù nách nó không dậy, bịt mũi nó không dậy, giật tóc kéo tai nó không dậy. Đến khi nó dậy được rồi thì toàn là tay làm hàm nhai tay làm hàm nhai tay làm hàm nhai… rồi xong om. Khốn nạn!

 Đại hội vỗ tay rào rào, vâng, thưa các bạn đại hội vỗ tay rào rào, điều đó cho thấy thuế má là vấn đề vô cùng nhức nhối đối với các bà vợ.

 Bây giờ là tham luận của bà Tô Thị Tùng Tiệm. Bà là vợ nhà văn loại đa sắc thể, ông viết văn thì ra báo, viết báo ra thơ văn xuôi, viết phim ra kịch, viết kịch nói ra cải lương… bất luận viết cái gì lập trường cũng vô cùng vững chắc. Tham luận của bà Tô Thị Tùng Tiệm có tiêu đề Quản lý chặt nhuận bút là nhiệm vụ cấp bách của chúng ta, một tham luận vô cùng quan trọng, chúng tôi cho đây là vấn đề trọng tâm của đại hội.

 Bà Tô Thị Tùng Tiệm nói rằng tình trạng trả nhuận bút của báo chí xuất bản nước ta hiện nay đã gây thất thoát nghiêm trọng cho thu nhập gia đình và cản trở không nhỏ cho công tác quản lý ăn chơi của các đức ông chồng. Bà Tô Thị Tùng Tiệm đang sôi nổi phát biểu.

- Trong khi các nhà văn coi việc đưa nhuận bút cho vợ là một việc làm hết sức oan ức và ngang trái thì báo chí gần như đồng lõa với họ, trả nhuận bút lung tung xoèng chẳng biết đường nào mà lần.

Thưa các bạn, vâng, thưa các bạn! Tham luận bà Tô Thị Tùng Tiệm vừa dứt, chúng tôi thấy một rừng cánh tay đưa lên. Người chạy micro vô cùng vất vả. Micro đến tay bà Hà Hân Hoan.

- Đúng đúng. Một tác phẩm được in, nhuận báo này đủ mua vài cân củ cải, nhuận bút báo kia mua được cả tạ thịt lợn. Các nhà văn tất nhiên đem củ cải về nhà còn đem thịt lợn đi nhậu, vô lý chưa!
 Micro đã đến tay bà Hồ Hừng Hực.

 - Tôi phải nói ngay, thưa đại hội tôi phải nói ngay. Chồng tôi là nhà thơ, khi mô hỏi nhuận bút cũng thở dài nói thơ phú người ta in cho là phúc. Hỏi ra mới biết nhuận bút một trang thơ mua được cả tạ gạo! Ghê gớm chưa!

Micro đã đến tay bà Hoàng Hồ Hởi.

- Đúng đúng! Chồng tôi là nhà văn có truyện in tuyển tập, hỏi nhuận bút đâu thì nói tái bản ai người ta trả nhuận bút, té ra trời ơi, té ra nhuận bút tuyển tập con còn gấp ba nhuận bút in báo trước đây. Tai quái chưa!

 Micro đến tay bà Hồng Hiu Hắt

- Đúng đúng! Đã thế báo chí còn che dấu hành vi đen tối của các nhà văn. Mới hôm qua đây thôi, một cô biên tập báo đến nhà tôi đưa phong bì cho chồng tôi, tôi hỏi cái gì đấy, cô này nói dạ dạ giấy mời họp. Tôi giật lấy bóc ra, ối giời ơi hơn ba triệu đồng, kinh hoàng chưa!

Khơ khơ khơ… vâng, khơ khơ khơ… chúng tôi nói không sai, nhuận bút nhà văn tuy nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng, nó quan trọng đến nỗi nếu không có nhuận bút thì chẳng cần đến vợ nhà văn.

 Đại hội sôi nổi đến nỗi quên mất giờ giải lao, tiếp tục tham luận của bà Nguyễn Ngao ngán- Rượu, nỗi khổ đau này không phải của riêng ai, sau Bà Nguyễn Ngao Ngán là tham luận của bà Lê Lúng Liếng-karaoke và giải bàn tay vàng, một tệ nạn xã hội cần phải trừng trị, sau bà Lê Lúng liếng là tham luận của bà Lý Luật Lệ- Nâng cao cảnh giác với đối tượng trữ tình của các nhà thơ, một tham luận rất quan trọng, vâng, cực kì quan trọng, chúng tôi thấy cả hội trường im phăng phắc.

Bà Lý Luật Lệ khẳng khái tuyên bố: bất cứ đối tượng trữ tình nào của chồng bà cũng đều nhằm vào một con đĩ nào đó, cho dù chồng bà có ghi cho em LLL, thương nhớ gửi em LLL hay gì gì đi nữa thì cũng đều cho lờ lờ lờ hết. Bà kêu gọi đại hội hãy cảnh giác ngay cả khi các nhà thơ nói về con chim, con bướm, con lợn, con gà thì cũng nhằm vào lờ lờ lờ hết.

- Vâng, đều lờ lờ lờ hết, cha tiên nhân chúng nó. Có lần chồng tôi vịnh cái cối xay: rào rào rào/ xoay xoay xoay/ em xoay/ em quay/ anh loay hoay/ mệt nhoài, mướt mồ hôi/ ôi ôi ôi…Tôi mừng thầm vì tôi cũng hao hao cái cối xay. Hóa ra không phải. Tôi đã phát hiện ra một cái cối xay khác còn khủng khiếp hơn cối xay của tôi, cha tiên nhân chúng nó chứ.

Vâng, bản tham luận vô cùng đanh thép, cho thấy tính hai mặt của văn chương là vô cùng nguy hiểm, cấp trên nhắc nhở chúng ta quả không thừa. Vâng, đây là bản tham luận cuối cùng, tham luận của bà Mai Mũm Mĩm, vợ của nhà phê bình trường phái Tiếng chim hót trong bụi mận gai, ông luôn đi đầu chứng minh văn thơ cấp trên luôn luôn bất hủ. Tham luận của bà Mai Mũm Mĩm rất thơ, vâng, thưa các bạn rất rất và rất thơ- Về quan niệm lỗi thời: nhà văn phải khác người ta, nếu mà tắm rửa thì ra người thường.

Khờ khờ khờ.. tuyệt vời phải không các bạn? Bà Mai Mũm Mĩm cho rằng nếu các nhà văn để tâm hồn treo ngược cành cây, còn thân thể hôi hám phó thác cho các bà vợ là hết sức không công bằng.

- Dzâng, đúng dzậy đó. Tâm hồn không biết dùng dzào dziệc gì, các ông muốn treo đâu thì treo, còn thể xác các ông phải để chúng tôi khai thác có hiệu quả, có phải không đại hội?

Hội nghị lại vỗ tay rào rào, rõ ràng tham luận của bà Mai Mũm Mĩm đã đánh trúng tâm trạng của chị em. Vâng, như người ta vẫn thường nói: thân thể thối tha thì tư tưởng tồi tệ, tư tưởng tồi tệ thì thơ tất tắc tị, thơ tắc tị tất tài tiêu tan, tài tan tất tiền tan, tiền tan tất tình tan.

 Điều đó có nghĩa là gì, có nghĩa là khi tình tan thì làm gì có đại hội nhà văn vô cùng trọng đại này, có phải không các bạn? Thưa các bạn, rất ngạc nhiên thưa các bạn, từ đoàn chủ tịch bà Phạm Phổng Phao đứng lên, bà dơ cao đôi đũa, không biết bà định nói gì.

 - Thưa đại hội, tôi đọc blog quê choa, thấy có phổ biến kinh nghiệm dùng đũa gắp chim chồng rất hiệu quả, không biết chị em có biết kinh nghiệm này không?

 Từ dưới hội trường của chúng ta hơn một nghìn đôi đũa dơ cao, vâng,hơn một ngàn đôi đũa của các đại biểu chính thức, các đại biểu danh dự và các đại biểu dự bị. Điều đó có nghĩa là gì, vâng, điều đó có nghĩa là blog là tiếng nói của một cá nhân rất hữu ích và rất thú vị, việc đem tiếng nói cá nhân vào quản lý là rất chí lý, rất chí tình và rất chí công vô tư, thể hiện tính ưu việt vô cùng của xã hội ta.

 Và bây giờ, thưa các bạn và bây giờ trong tay tôi có danh sách Ban chấp hành của Hội vợ các nhà văn. Đó là những ai, vâng, vô cùng hồi hộp. Vâng, thưa các bạn, đó là bà Phạm Phanh Phui, bà Lý Luật Lệ, bà Cù Cảnh Cáo, bà Trần Trừng Trị, bà Dư Giam Giữ, bà Chu Chặt Chẽ. Số điểm của các bà rất, rất và rất cao. Chín, chín phẩy năm, chín phẩy năm… mười, mười, mười, và… mười! Xin cảm ơn và xin cảm ơn!

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

Yêu cái đình làng

 Nguyễn Quang Lập 
 Té ra cái tản văn “ Một mình làm cả cái đình” nổi tiếng phết. Mình về quê, gặp mười người thì có đến sáu, bảy người nhắc đến bài đó. Mình khoe với thằng Lợi râu, bạn học thời phổ thông, nó cười cái xoẹt, nói mi đừng có tưởng bở. Cái đình làng mình hay, đâu phải bài mi hay. Thằng Lợi nói cũng phải, cái đình làng là niềm tự hào của dân Ba Đồn, hễ có bài nào viết về đình làng người ta đều tranh nhau đọc. Không chỉ riêng dân Phan Long, dân gốc của Thị trấn Ba Đồn, hãnh diện về cái đình to đẹp nhất nước ( nhiều người bảo to đẹp nhất Đông Nam Á), mà dân tứ xứ về đây lấy cưới vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái cũng rất hãnh diện. 


 Dân làng nào cũng cố tìm được cái gì đó của làng để mà tự hào. Dân Ba Đồn cũng vậy. Xưa thì tự hào có cái chợ to nhất miền Trung. Thời kháng Pháp thì tự hào có anh hùng liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn, chiến sĩ tình báo tí hon thông minh quả cảm, bị địch bắt lúc ông mới 15 tuổi, Pháp đem ra đình chợ bắn vẫn không một chút sợ hãi, vẫn ngẩng cao đầu hô to bốn tiếng “Việt Nam muôn năm!”. Nhà nước không phong anh hùng ( nghe đâu chỉ vì nhà ông Nguyễn Tiến Nhẫn có người anh theo tề) nhưng dân Ba Đồn hết thảy đều gọi ông là anh hùng. Kịp đến thời chống Mỹ, Thị trấn Ba Đồn chẳng bắn được chiếc máy bay nào lại bị bom Mỹ san phẳng, dân Ba Đồn vẫn tìm được niềm tự hào, ấy là anh cu Kỷ, người đầu tiên tỉnh Quảng Bình bắt được phi công Mỹ. Bây giờ dân Ba Đồn có gì để tự hào nhỉ? A cái đình làng, thằng Lợi râu vỗ tay đánh bốp kêu to, trông mặt nó hớn hở như bắt được vàng. 

Lợi râu ít nói, ai nói gì cũng cười cái, nói ừ. Xong lại ngồi im, chẳng nói gì. Nhưng khi bắt được mạch nó nói rất hay, đặc biệt chuyện quê nhà thuở xa xưa nó nói không biết chán. Nó bảo sau bảy lăm, Thị trấn Ba Đồn bạc phếch, tàn tạ vì đói nghèo, ai nấy sấp mặt kiếm ăn, tưởng không còn có cơ nào có thể ngước mặt lên cùng thiên hạ. Chẳng ngờ vật đổi sao dời, đất nước vào kì đổi mới, Ba Đồn lại khấm khá như xưa, đến nay đã hoàn toàn thay da đổi thịt, nhiều thứ ngày xưa có nằm mơ cũng không có bây giờ giăng đầy. Xe hơi là một ví dụ, dân Thị trấn đi xe hơi còn nhiều hơn ngày xưa đi xe máy. Tuy vậy giàu sang phú quí thì dân Ba Đồn là cái đinh so với nhiều nơi khác. Không là cái đinh thì mình có cái đình, Lợi râu nói thế rồi ngửa cổ cười ha ha ha. Nhìn nó cười thật đã.

 Cái biệt danh “Lợi râu” có từ thuở con nít, mình đã kể rồi. Năm 1969 đoàn kịch trung ương (không nhớ là đoàn nào) về diễn vở Đêm tháng bảy, người ta lấy xăng ngậm mồm phun trước mồi lửa, lửa bùng lên to bằng cái nong, rất vui. Con nít tụi mình đua nhau ngậm xăng phun mồi lửa, có đứa nuốt xăng đầy bụng, say nhừ. Thằng Lợi cũng ngậm xăng phun mồi lửa, chuẩn bị phun thì cười sặc, lửa bám vào mặt nó cháy bùng. May có người lớn dập được lửa đưa nó đi cấp cứu. Nó ra viện với có cái sẹo dày cộp ở cằm như là bộ râu sẹo. Khổ thân nó đẹp trai ngời ngời vì bộ râu sẹo đâm ra ế vợ. Ngày xưa trai ba mươi chưa vợ gọi là ế, nó 35 tuổi kiếm được cô gái Huế xinh đẹp mừng húm. Hi hi. 


Tuần trước mình về chịu tang ông ngoại mấy đứa nhỏ, nó từ Huế ra chơi với mình hai ngày. Bạn bè cùng quê gặp nhau chỉ uống rượu Ba Đồn, rượu tây xịn mấy cũng không thích. Giống rượu Mao Đài, rượu Ba Đồn có mùi khê rất đặc trưng, chưa quen thì khó uống, quen rồi đâm nghiện, uống rượu khác thấy nhạt phèo. Bạn bè cùng lớp thuở ấu thơ, bây giờ kẻ làm thợ người làm thầy, kẻ tiền tỉ người tiền nghìn, kẻ quan lớn người thảo dân… mỗi lần về quê là dính nhau như keo, chẳng thèm phân cao thấp sang hèn, ngồi với nhau hết đêm này sang đêm khác không biết chán, tán đủ chuyện trên trời dưới đất, mày tau chi tớ loạn xị, nói tục văng miếng, rất vui.

Mình và Thằng Lợi râu ngồi nhậu lai rai. Lát sau có thêm thằng Dũng Ấm Đường, thằng Đại Phúc, thằng Thái Bình và thằng Xô Viết. Món văn hóa Phan Long  thì thằng Xô Viết là nhất.  Nó baỏ Ba Đồn xưa gọi là Phan Long, đình làng Phan Long có từ thời hậu Lê, có lẽ đình được dựng lên bởi thành hoàng làng Nguyễn Đức Tuân, dân kính cẩn gọi là quan tả vì ngài có tước phong của vua Lê là Tả Quân Công, phụ trách Bắc Bố Chính, tức phía bắc Quảng Bình bây giờ. Chỉ có ngài mới có khả nặng dựng nên cái đình chứ dân Phan Long ngày đó có một nhúm, nghèo khô xác mướp, làm sao dựng nổi cái đình.

Đến năm 1965 đình làng Phan Long bị bom Mỹ san phẳng. Từ đó cho đến năm 2007 không ai nghĩ đến chuyện dựng lại đình, quá nửa dân Ba Đồn không còn nhớ vị trí ngôi đình xưa, nhiều người còn không biết đã từng có một đình làng tồn tại gần ba trăm năm ở nơi đây. Rất may có một người nhớ đến cái đình, đó là thằng Đức ( Nguyễn Xuân Đức), nó nhớ quay quắt, đến nỗi quyết định bỏ ra cả triệu đô để xây lại cái đình. Chuyện này mình đã kể trong bài “ Một mình làm cả cái đình”, thôi không nói nữa.

Thằng Lợi râu, vẫn thằng Lợi râu, tụi mình vẫn gọi nó là thằng hoài cổ, nói đông nói Tây thế nào rồi cũng nhắc đến cái đình làng.  Nó bảo khi nghe tin thằng Đức bỏ tiền ra xây đình dân làng Ba Đồn ai cũng phấn khởi đồng tình. Ừ thì nó có tiền làm được cái đình cũng vui. Vui thì vui vậy thôi nhưng ít ai quan tâm làm đình để làm gì, tại sao lại phải làm đình. Dân Ba Đồn có đời sống phố phường quen rồi, bao nhiêu nét đẹp của văn hóa làng đều quên sạch. Đến khi đình làng xây xong, to đẹp gấp mười đình làng cũ thì ai nấy mới vỡ ra chính đình làng là nơi cất giữ hồn làng. Bấy lâu nay hồn làng phiêu tán khắp nơi, bây giờ tụ cả vào đình làng. Ba Đồn lâu nay như cái xác không hồn, ai nấy nhởn nhơ sống mà không biết mình đang ở trong cái xác không hồn. Thật là đáng sợ. Thế mới biết một triệu thằng Đức bỏ ra là rẻ, quá rẻ. Giữ được hồn làng cho con cháu muôn đời, ai bảo một triệu đô là đắt.

Lợi râu nói đúng. Từ ngay có đình làng dân tha hương tứ xứ đều háo hức muốn về làng, hễ gặp nhau là hỏi nhau hè này tết này có về làng không, có ghé thăm đình làng không. Dù Ba Đồn bây giờ là thị trấn, mai mốt sẽ lên thị xã thì đối với dân Ba Đồn đấy cũng chỉ là ngôi làng của họ. Nếu thằng Đức không cố công dựng cái đình làng, ý niệm làng sẽ tan dần trong phố thị, cái tình làng cũng theo đó mà tan theo. Bây giờ khác rồi, người ta không nói về Ba Đồn mà nói về làng mình, hai tiếng làng mình vang lên mới ấm áp gần gũi làm sao.
 
Hội làng Phan Long ( Ba Đồn) diễn ra tại đình làng vào ngày rằm tháng giêng hàng năm
 Từ ngày có đình làng dân Ba Đồn mới có tục cô dâu chú rễ ra đình làng thắp hương vái cụ tổ trước khi vào lễ thành hôn. Đám tang người làng đều phải đi qua đình làng , dừng lại trước cửa đình để thầy cúng và người nhà dẫn vong vào bái biệt đình làng, lần cuối cùng bái biệt quê hương. Rồi hội làng quên bẵng nửa thế kỉ nay đã nhanh chóng được hồi phục, nửa thế kỉ mình mới thấy lại những trò chơi thủa bé thơ đã thấy. Thấy cây đu , thấy cờ thẻ, thấy kéo co, thấy bài chòi, thấy gà chọi, thấy thi nấu cơm…và lại thấy hai cái giếng làng.


Giếng Cau ở phía đông, Giếng Cát ở phía tây được coi là long mạch của làng, thiêng lắm. Thiêng thế nhưng từ ngày Thị trấn phình to ra, dân Thị trấn hết thảy dùng nước máy thì hai cái giếng cũng bị bỏ quên, cả hai đều bị đất cát vùi lấp không còn dấu tích.  Khi làng biến mất thì giếng làng cũng chẳng có ý nghĩa gì, buồn thế đấy. Thằng Đức lại bỏ ra mấy trăm triệu để khôi phục lại hai cái giếng. Long mạch làng được hanh thông thì dân làng mới ăn ra làm nên, nghĩ thế nên dù làm xong cái đình tiền đã hết sức đã kiệt thằng Đức vẫn cố dốc túi dồn sức gây dựng lại giếng làng.

Mình và thằng Lợi râu theo thằng Liên đi thăm hai cái giếng. Thằng Liên bạn học thuở vỡ lòng của tụi mình, bây giờ nó là chủ tịch Thị trấn oách lắm nhưng mình vẫn gọi nó bằng thằng, hi hi. Tụi mình vẫn trêu nó, nói mày làm quan nhưng mà tốt. Nó cười khì, nói cu Liên không tốt thì ai tốt. Quả thế thật. Việc khôi phục hai cái giếng, thằng Đức đề nghị từ lâu chẳng ai quyết, người ta bảo dân dùng nước máy rồi đào lại giếng làm gì. Chỉ đến khi thằng Liên lên làm chủ tịch Thị trấn, thằng Đức chưa nói hết câu nó đã ok, cho làm liền. 

Đến giếng nào thằng Lợi râu cũng  cúi xuống soi mặt mình rất lâu. Nó vỗ vai thằng Liên, nói tau đề nghị như ri: Ngày hội làng hằng năm, mi bắt dân Ba Đồn phải lần lượt tới hai cái giếng làng, tự soi mặt mình xuống giếng xem mình có xứng đáng là dân Ba Đồn  nữa hay không.

 Lợi râu dừng lời cười rất tươi nhưng mắt lại ướt nhòe, sũng nước. Bộ râu sẹo của nó giật giật rung rung. Chơi thân với nó gần trọn kiếp, bây giờ mình mới để ý mỗi khi cảm động một điều gì, bộ râu sẹo của nó lại giật giật rung rung.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Mẹ con chị Đào



Nguyễn Quang Lập 
Năm 1981 mình đóng quân ở đảo Cái Bầu (Quảng Ninh). Đảo Cái Bầu to đùng gọi là huyện đảo, chẳng thấy  đâu “sóng biển dập dìu”chỉ thấy rừng là rừng. Cuốc bộ 25 cây số mới tới nơi đóng quân, đấy là sáu quả đồi nằm giữa âm u rừng già, buồn ơi là buồn. Sống đấy chỉ giải khuây bằng việc mang gạo vào nhà dân đổi chó đem về mổ thịt nhậu chơi. Mình với thằng Quí kết với nhau đi đổi chó mười mấy bản quanh khu vực đóng quân. 


Thằng Quí  ở đại đội bệ, to cao phốp pháp như Tây, nó là giống tây lai dù bố mẹ nó đều người Việt. Nó kể ông nội nó là lính lê dương, hiếp bà nội nó đẻ ra bố nó.  Bố nó rất thuần Việt, chẳng lai tây chút nào nhưng đến thế hệ F2 là nó lại lai tây. Hồi nầy Tây có nghĩa là Liên Xô, các đơn vị tên lửa thường có chuyên gia Liên Xô về làm việc nên bất cứ ai nhìn thấy nó đều đinh ninh là chuyên gia Liên Xô.

  Cứ chiều thứ bảy nó đeo giày Kur Sơ Gin ( hay là giày gì đó  không nhớ, cũng chẳng nhớ nó kiếm đâu ra giày sĩ quan Liên Xô rất xịn đó), khoác cái áo bay Liên Xô cùng mình vác một, hai yến gao đi về mấy bản gần đấy. Nói là gần chứ cũng phải đi chừng năm bảy cây số mới tới nơi. Tất nhiên mình vác gạo, nó đi không. Chuyên gia Liên Xô ai lại đi vác gạo, hi hi.

Nhác thấy nhà nào có con chó nào thịt được, hai thằng rẽ vào. Nó cười rất tươi, cúi chào rất lễ độ, nói rốp rít xốp xít. Tiếng Nga nửa tiếng nó chẳng biết, cứ rốp rít xốp xít loạn cả lên. Mình cũng “dịch” loạn cả lên, miệng mồm  như tép nhảy, nói đồng chí chuyên gia Liên Xô kính chào bố mẹ, chúc bố mẹ sức khỏe. Nó đế thêm cái tiếng Việt  ngọng của Tây, nói án khang thính vướng. Bố mẹ thích lắm, đón tiếp rất niềm nở, có gì ăn được trong nhà đem ra mời hết.

Thằng Quí nhìn con chó rất âu yếm nói một tràng rốp rít xốp xít. Mình dịch ngon trớt, nói đồng chí chuyên gia rất thích con chó này. Nó đế thêm, nói cón chò đép làm.  Mình nói người nước ngoài coi chó như bạn, sang đây không có bạn, đồng chí chuyên gia buồn lắm. Nó đế thêm, nói buốn làm buốn làm. Mình nói đồng chí  chuyên gia rất muốn mua con chó này nhưng đồng chí chuyên gia chỉ có tiền Liên Xô không có tiền Việt, không biết bố mẹ có đồng ý đổi gạo không. Bố mẹ nghe nói vậy thì ok liền, nói đồng ý đồng ý, ưu tiên đồng chí chuyên gia Liên Xô. Nó liền bắt tay bố mẹ, nói càm ớn bò mè càm ớn bò mè.

Xong việc, “đồng chí chuyên gia” tay không túc tắc đi về, “đồng chí phiên dịch” phải vác bao tải chó lúc cúc chạy theo sau, mệt bỏ mẹ nhưng chẳng dám kêu một tiếng. Hi hi. Nói chung khi “đồng chí chuyên gia” đã ngỏ lời đổi gạo lấy chó, nhà nào cũng vui vẻ ok. Có nhà tặng luôn con chó cho đồng chí chuyên gia không lấy một cân gạo. Duy nhất có một nhà bóc mẻ được thằng Quí là ông Liên Xô dởm, ấy là nhà chị Đào.

Năm đó chị Đào hai sáu tuổi, hơn tụi mình hai tuổi, xinh nhất bản ( bản gì cũng quên mất rồi). Tụi mình vào nói chuyện với bố mẹ, chị đứng nép vách buồng nghe lén, thỉnh thoảng nhóng cổ ra cười khúc khích, lúm đồng tiền sâu hoắm, tròn vo. “Đồng chí chuyên gia” thấy người đẹp thì ngẩn ngơ, mặt đực như ngỗng ia, mình phái hích cùi chõ mấy lần nhắc nhở. Đến đoạn mình nói “đồng chí chuyên gia rất muốn mua con chó này nhưng đồng chí chuyên gia chỉ có tiền Liên Xô không có tiền Việt, không biết bố mẹ có đồng ý đổi gạo không” thì chị cười ré lên, nói tiền Liên Xô cũng được, đem tiền Liên Xô đây. Thằng Quí mặt tái như đít nhái. Mình giả bộ rốp rít xốp xít với thằng Quí rồi quay lại “dịch” cho chị , nói vì không nghĩ bố mẹ cần tiền Liên Xô nên đồng chí chuyên gia không mang tiền theo. Thằng Quí mừng quá, nói đùng rói đùng rói. Chị Đào cười ngất, nói thôi đi chú Quí chú Lập ơi. Chị biết các chú là ai rồi.

Té ra chị Đào là vợ anh Chiến lái xe cùng sư đoàn. Hôm liên hoan văn nghệ sư đoàn, tụi mình lên sân khấu hát hò chị có đến xem. Thằng Quí còn diễn kịch, thủ vai phi công Mỹ, làm sao chị không nhớ. May quá. Bố mẹ chị biết hai thằng cùng đơn vị anh Chiến nên cười xòa, cho luôn con chó, còn mời hai thằng ở lại ăn cơm. Bây giờ mới biết chị Đào là con dâu, quê chị ở Thái bình theo anh Chiến về đây đã sáu năm. Thằng Quí tiếc ngẩn ngơ, giá chị chưa chồng thế nào nó cũng sẵn sàng “ chết” với chị. Nó là giống tây lai muốn “chết” với cô nào mà chẳng được, hi hi.

Đang bữa cơm chợt nghe mấy tiếng è è ó ó. Chưa kịp định thần là tiếng gì thì chị Đào chạy vào buồng bế ra chú bé 4 tuổi. Hai thằng nhìn chú bé hết muốn ăn, sợ chết được. Chú bé bị liệt, hai chân mềm nhũn như là không có xương. Mặt như người bị down mắt ếch miệng cá ngão. Cái cổ nhỏ như cổ tay trong khi cái đầu to đùng, trán dô tai tóp. Chị Đào nhìn tụi mình tươi tỉnh, nói các chú cứ ăn đi, đừng sợ. Bố cháu bị nhiếm chất độc da cam hồi ở rừng Trường Sơn, sinh cháu ra đã thế này rồi. Bác sĩ khuyên nên bỏ đi nhưng chị không chịu, dù sao cũng là con mình, nó ra giống gì vẫn là con mình, có phải không các chú?

 Chị lấy chào đút cho thằng bé, cứ đút thìa nào là nó phun ngược ra thìa đó, mặt chị dính đầy cháo. Thằng Quí há hốc mồm, nói sao thế, cháu nó ăn kiểu gì thế? Chị cười, nói cháu ăn cơm không được, nó không biết nhai, có khi phải đút cháo cả đời. Nhưng đấy là chuyện nhỏ, cái chính là cháu lẫn lộn giữa nuốt vào và phun ra. Cho cháu ăn một bát cháo có khi mất cả chục bát. Xong bữa  mẹ con như trâu lấm. Cứ tưởng chị kể xong là òa khóc hóa ra không, chị cười rất tươi như  vừa kể một chuyện gì vui lắm. Bố mẹ chồng nghẹn ngào, nước mắt dàn dụa, chị thì cười rất tươi, đôi mắt đen nhánh lóng lánh, đôi lúm đồng tiền tròn vo. Lạ quá.

 Sau bữa cơm nhà chị Đào mình không gặp chị lần nào nữa. Tháng sau mình được quân chủng điều về Đà Nẵng, từ đó đến nay di chuyển chỗ ở ba bốn nơi, chẵn ba mươi năm thỉnh thoảng vẫn tính về thăm lại đảo Cái Bầu nhưng chưa một lần thực hiện.

 Năm ngoái thằng Sơn (Nguyễn Thanh Sơn) rủ bạn bè về Đà Nẵng chơi, gọi là kỉ niệm hai năm ngày cưới nó với Hồng Ánh. Hai năm chỉ vỡ có ba chồng bát với hai cái mobile gọi là thành công rực rỡ, hi hi. Đà Nẵng là chốn cũ, mình đã ở đây 4 năm. Nhậu nhẹt tưng bừng xong mình bỏ đám bạn gọi taxi đi lòng vòng quanh thành phố. 

Mình về phố Ông Ích Khiêm, nơi có quán mì Quảng rất ngon và một quán cà phê nhỏ nhỏ dưới gốc bàng, mình và anh em văn nghệ Đất Quảng vẫn hay ngồi ở đó. Quán mì Quảng không còn, quán cà phê đã cơi nới rất hoành tráng, nhạc nhót ầm ĩ, đèn đóm lập lòe. Biết đó không còn chỗ của mình nữa, mình đành bỏ đi.

Bất chợt mình thấy một người đàn bà bán số bên kia đường. rất lạ: Chị nhỏ thó teo tóp lại gùi một người đàn ông to đùng. Chị Đào! Mình chạy đến chào chị, nói em là Lập đây, Lập phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô đây, chị có nhớ em không. Chị nhìn mình hồi lâu rồi a lên một tiếng, chụp lấy tay mình, nói chú Lập, ui chao chú còn nhớ chị. Mình nhìn người đàn ông sau lưng chị, biết ngay là con trai chị, chú bé ba chục năm về trước bây giờ đã hơn ba chục tuổi rồi.

Chị em vào quán ngồi, nghe chị kể mới biết anh Chiến bị ung thư máu chết cách đấy mấy năm, bố mẹ chồng bố mẹ đẻ đều về trời hết cả. Chẳng còn ai nương tựa, chị đành gùi con đi bán vé số. Mình đưa chị ít tiền, chị kiên quyết không lấy, mình đành mua hết  mấy chục vé còn lại trên tay chị. Chị nói cười rổn rảng, nói ôi chao bữa nay may quá là may. Chợt thằng bé kêu è è ó ó. Chị vỗ vỗ thằng bé, nói thằng này nó biết đấy. Hễ chị bán được vé số là nó mừng lắm, kêu è è ó ó là nó đang hát đấy. Gương mặt nhầu nhĩ già nua của chị bỗng sáng trưng.

 Mình nói ngày nào chị cũng gùi thằng bé hơn năm chục cân, chịu sao thấu? Chị cười, nói không chịu cũng phải chịu chứ sao. Mình nói sao chị không kiếm cái xe lăn đẩy nó đi? Chị nói chị kiếm rồi nhưng cháu không ngồi được, cột dây ngang ngực nó khó thở, cột ngang bụng thì nó gập người xuồng, chúc đầu xuống đất. Thôi thì gùi vậy. Mình nói đến khi chị già yếu không gùi được nữa thì sao? Chị cười, nói ối dào, đến đó rồi hẵng hay.

Thằng bé lại è è ó ó. Mắt chị lại sáng lên, nói đấy đấy nó lại hát đấy. Khi nào nó hát là nó vui lắm đấy.  Chị cười rất tươi, tươi đến nối làm mình rùng minh nổi cả da gà.

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Anh cu Đo



Nguyễn Quang Lập 
Làng Đông có vè: Hay cãi cu Luật, hay đập cu Hinh, đánh rắm thối inh là anh cu Khả...  Lại có vè: Cu Luật hay cãi, cu Thái hay lo, cu Đo hay cấm, cu Chấm hay thơ, cu Bơ hay lẹo…..Mấy anh cu Bơ, cu Hinh, cu Thái,cu Khả, cu Chấm… mình không biết. Hồi ở làng Đông mình không thấy họ, có thể họ đã đi bộ đội hay đi kinh tế mới lâu rồi. Anh cu Luật mình đã kể rồi, giờ kể nốt chuyện anh cu Đo.


Anh cu Đo lúc đầu ở  trước nhà thằng Tâm con ông cu Thành, sau chuyển về  ở sau nhà chị Xuân con ông Mẹt Nhiệt, sau chuyển về ở cạnh nhà anh cu Tý con ông cu Nhuế, rốt lại mình chẳng nhớ anh cu Đo ở đâu nữa. Gần chục năm sống ở làng Đông mình thấy anh cu Đo nhổ nhà chỗ này cắm nhà chỗ kia loạn cả lên. May anh có của nả ông bà để lại nếu không anh cũng sẽ sạt nghiệp theo chuyển nhà.

To cao trắng trẻo đẹp trai hát hay, anh cu Đo thuộc loại hot boy trong làng. Chị Lê vợ anh cũng xinh và hiền, hiền vô kể, ai nói gì cũng cười, ít khi thấy chị cãi nhau với ai bao giờ. Nhác qua thấy họ hạnh phúc, nhưng không, chị Lê hết nước mắt với anh cu Đo.

Cũng chẳng có gì to tát, chỉ vì với việc làng anh nhiệt tình năng nổ xông xáo quá đáng. Anh chẳng có chức sắc gì, một chân tổ trưởng cũng không. Bất kì một cuộc bầu bán nào anh cũng hăng hái ứng cử nhưng chẳng ma nào bầu cho anh. Người làng Đông vốn ghét đa sự, ghét luôn mấy kẻ thích quan trọng hóa, máu quan quyền. Cứ thấy anh nào thích quan trọng hóa, máu quan quyền không bao giờ họ bầu dù kẻ đó có giỏi bằng giời. Khốn thay cả hai thứ đó thứ nào anh cu Đo cũng đầy ắp, hi hi.

Anh cu Đo  tự thấy mình phải có trách nhiệm ở khắp mọi nơi, bất kì việc gì xảy ra trong làng anh cũng ra sức đôn đốc giải quyết. Nội mỗi chuyện họp đội không thôi cũng đủ mệt với anh. Đã qui định rồi, kẻng đội đánh một hồi sáu tiếng là đi họp nhưng anh luôn lo người ta bỏ họp, phải đôn đốc tới nơi tới chốn. Buổi chiều đi cày về anh thả cày vọt đến nhà này, nói tối nay họp đội nghe chưa; lại vọt đến nhà kia nói đến nhà  nói tối nay họp đội nghe chưa… cứ thế anh hết đi hết cả trăm hộ trong đội.

Ăn cơm xong anh lại lượn một vòng đủ trăm hộ, đến nhà này nói mau ra họp đội nha, đến nhà kia nói mau ra họp đội nha. Nghe lắm nhàm tai chẳng ai thèm trả lời anh, anh cũng chẳng cần ai trả lời. Nhưng nhà nào đi chậm hoặc bỏ họp là anh vọt đến ngay, tay chỉ miệng quát, nói à ha, giờ ni không ra họp à bay- À ha có ra họp không đó hả. Đa số đều ngọt nhạt trình bày lý do để anh đi cho khuất mắt, cũng có nhà điên lên, nói tau không đi họp đó, mi mần c. chi tau. Thế là cãi nhau ầm ầm, có khi còn đánh nhau nữa.

Bốn vách kho đội 1 đều treo biển cấm của anh cu Đo: Cấm nói chuyện riêng trong khi họp, cấm đan lát thêu thùa trong khi họp, cấm ngủ gật trong khi họp. Tự anh treo lên chứ chẳng ai bảo. Giá ông đội trưởng nhắc anh bỏ đi, nói thôi em ạ, mấy thứ đó mình nhắc nhở thôi, cấm đoán làm chi, tự khắc anh cu Đo sẽ tháo luôn mấy cái biển cấm. Đằng này chẳng có ai bảo, người nghĩ nó treo biển thế cũng chẳng sai, người nghĩ thôi kệ cha nó muốn treo gì thì treo, việc mình mình làm.

Anh cu Đo không nghĩ vậy, anh đinh ninh mấy cái biển anh treo lên đó là luật rồi, nhất nhất mọi người phải tuân theo. Hễ ai làm việc riêng nói chuyện riêng trong khi họp là anh nhảy lên tay chỉ miệng quát, nói này, à ha không thấy cái biển đó à, có mù không đó- À ha không chịu chấp hành, gan to hè. Mọi người cũng chỉ cười xòa, không chấp. Lâu ngày thành quen, anh cu Đo lấn ra ngoài làng, khắp nơi có biển cấm của anh: Cấm ỉa bậy đái bậy, Cấm chặt cây rừng trâm bầu, Cấm ăn cắp đất cày của hợp tác, Cấm khạc nhổ lung tung, cấm đ. bậy… Người gật gù khen, nói cu Đo  có tinh thần trách nhiệm; người cười khẩy văng tục, nói đ.mạ cu Đo hết việc rồi à bay, thăng ni e điên. 

Nhiều người tìm đến Chủ nhiệm thắc mắc, nói cu Đo quyền hành chi mà cấm lung tung? Chủ nhiệm cười cười, nói ừ nhưng mà nó cấm có sai đâu. Được lời anh cu Đo càng hăng hái cấm. Một hôm khắp đường làng bỗng xuất hiện biển cấm của anh: Cấm trâu bò ỉa trên đường làng. Mọi người rũ, nói vơ cu Đo nời, lệ làng có rồi, trâu bò nhà ai ỉa nhà đó dọn, răng mi còn cấm. Anh cu Đo đầu lắc tay xua, nói phải cấm không được cho trâu bò ỉa, ỉa rồi dọn nói làm chi. Mọi người phải có trách nhiệm huấn luyện cho trâu bò không được ỉa trên đường làng. Mọi người cười rũ. Có người dắt bò đến trước mặt anh, nói đây, bò tau đây. Mi huấn luyện răng cho nó không ỉa trên đường làng tau cho mi cả con bò. Anh cu Đo không nói, cắm cái biển cấm cái phập, nói chấp hành đi, không oong đơ chi hết!

 Anh cấm cứ cấm, trâu bò ỉa cứ ỉa. Cứ mỗi lần phát hiện trâu bò ỉa chỗ nào trên đường làng là anh lại làm thêm cái biển cấm cắm ngay ở đó. Đường làng hơn cây số có đến trăm cái biển cấm của anh cu Đo. Suốt ngày anh loay hoay làm biển cấm, bỏ hết việc nhà việc Hợp tác. Ai cười chê mặc anh cứ làm, biển cấm này bị nhổ bỏ đi anh lại làm biển khác, không biết chán nản mệt mỏi là gì. Chị Lê vốn hiền lành nhu mì cũng phát rồ với anh, nói anh cấm chi cấm lắm, cấm được người ta anh sướng lắm à. Anh trừng mắt lên, nói em là vợ anh, không được nói năng vô trách nhiệm.

Một chiều anh cu Đo đang loay làm thêm mấy cái biển cấm thì chị Lê với hơn chục chị đi vào, ai nấy đầy một ôm biển cấm trên đường làng,. Anh ngạc nhiên hỏi chi rứa. Mọi người xổ chục ôm biển cấm ra cả một đống, biển nào biển nấy ghi đúng một dòng: Cấm Đo Lê ỉa trên đường làng. Anh cu Đo gầm lên, nói đ. mạ bọn phản động. Anh hì hụi xóa chữ Đo Lê thay bằng chữ trâu bò,mặc chị Lê lăn lóc rên rĩ van xin anh vẫn ngồi sửa hết cả trăm cái biển cấm. Rồi anh lại vác trăm cái biển cấm ra đường làng cắm cho đến sáng hôm sau mới xong. Tối hôm đó nghe nói chị Lê ra giếng làng tự vẫn, may có người cứu được.

Chuyện anh cu Đo mấy chục năm rồi mình vẫn nhớ như in, riêng việc vì sao anh chuyển nhà cả chục lần là mình không biết. Năm ngoái anh cu Tý con ông cu Nhuế vào Sài Gòn cưới chồng cho con, ông chồng là cháu ruột vợ mình. Anh em gặp nhau hàn huyên làng Đông, mình có hỏi vì sao anh cu Đo hay chuyển nhà, Anh cu Tý mắt trợn miệng há, nói oa chà thằng ni không biết à bay. Rồi anh kể, vừa cười vừa kể, nói ông Cu Đo mắc bệnh khó ngủ, nghe tiếng con nít khóc tiếng hát ru ông càng khó ngủ. Cu Đo mới làm biển: Cấm con nít khóc sau chín giờ đêm, cắm trước ngõ những nhà có con nít mới đẻ quanh xóm ông. Chẳng những ông không cấm được mà còn bị người ta chửi cho, rứa là ông đành phải nhổ nhà đi cắm chỗ khác. Anh cu Tý vỗ đùi đánh bốp, nói mi biết không, hay ở chỗ là thà nhổ nhà đi cắm chỗ khác, nhổ nhổ cắm cắm cả chục lần ông cu Đo vẫn kiên quyết không bãi bỏ lệnh  Cấm con nít khóc sau chín giờ đêm… ha,tức cười chết được.

Mình cười hì hì, nói anh cu Đo còn sống không? Anh cu Tý nói còn, bây giờ già yếu hom hem, sống một mình vợ con không có, tội lắm. Mình nói chị Lê bỏ anh Cu Đo rồi à. Anh cu Tý cười, nói a thằng ni không biết à bay, bỏ nhau từ thời mi còn ở làng Đông mà. Chuyển nhà đến lần thứ năm thì chị Lê đâm đơn ly di, may hai người chưa có con bỏ để cũng nhẹ nhàng. Anh cu Tý bỗng vỗ vai mình đánh bốp, nói hay mi về làng Đông với tau một chuyến? Mi không về mau ông cu Đo chết rồi lại tiếc. Mình nghe bùi tai, đi liền.

Về làng Đông tất nhiên mình đến thăm anh Cu Đo. Ngôi nhà toang hoác, anh đang ngồi khóm róm ở ngạch cửa trông ra ngõ. Xưa anh to khỏe đẹp trai là thế, bây giờ sụm xuống hệt một cây chuối héo rũ rượi xơ xác. Mình chào anh, anh trố mắt nhìn, nói ai rứa hè. Mình xưng tên mình, tên ba mạ mình anh vẫn trố mắt nhìn rồi cười cái hậc, nói quên cha cả rồi còn mô, và lại ngồi im ngoảnh mặt trông ra ngõ.

Tuồng như không nhớ nhà đang có khách, anh cứ ngồi khóm róm trông ra ngõ, dáng như chó đói chờ ăn. Sau lưng anh có biển cấm to đùng treo trên vách: Cấm li dị.