Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

Bạn bè một thuở giờ đâu tá?



1Nguyễn Quang Lập
    Hôm nay  có hai ông bạn ở quê đến chơi. Chúng nó nghe tin mình  vào Sài Gòn mừng lắm, mình biết chúng nó làm ăm ở Sài Gòn cũng mừng lắm, hẹn hò mãi giờ mới  gặp. Nhưng ngồi với nhau chừng một giờ thì chẳng biết nói gì nữa. Chuyện mình quan tâm thì chúng nó chẳng buồn nghe, chuyện chúng háo hức thì mình chán ngắt, nghe sốt ruột kinh khủng.

            Thuở bé mình thân chúng nó lắm, không khi nào rời nhau. Đi học ngồi cùng bàn, về nhà cùng lên rừng hái củi, cùng mò cua bắt ốc, tối tụ tập chơi trò đánh du kích, ù muỗi cho tới khuya. Ngủ cũng không rời nhau, hết ngủ với nhau hầm nhà thằng này lại mò sang hầm nhà thằng khác. Thế mà bây giờ sau phút mừng vui gặp gỡ, lòng vẫn yêu quí nhau thôi nhưng nhu cầu ngồi với nhau không còn nữa.
            Chẳng phải hai đứa này, bạn bè hồi học phổ thông, hồi đại học, hồi ở lính… mình cũng lâm vào tình trạng này. Gặp nhau mừng quá là mừng, ôm vai hót cổ cảm động lắm. Nhưng ngồi với nhau sang đến buổi thứ hai tự nhiên thấy oải, phần giao thoa ít ỏi cũng không còn, chỉ còn chút gượng cười cho vừa lòng nhau thôi.
 Tại sao thế nhỉ? Chịu.

2. Nhớ ngày xưa cứ mỗi mùa word cup, mùa Euro, cả hội bạn bè lăn lê với nhau suốt đêm, khi thì nhà thằng này khi thì nhà thằng khác, tuyệt không biết vợ con là gì, vừa xem vừa uống vừa cãi nhau ỏm tỏi. Chuyện đó giờ đây tuồng như đã chấm dứt.
 Một hôm thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên) bảo đến nhà nó xem
trận chung kết Euro, nói bạn bè đến đầy đủ cả, mày nhớ đến nhé. Mình lo đến thật sớm, thằng Nguyên lo một mâm nhậu to, chờ mãi mới thấy  Bảo Ninh, Trung Trung  Đỉnh lò dò đến. Chẳng còn ai đến nữa, lần đầu mâm nhậu thằng Nguyên bị ế. Mặt thằng Nguyên vẻ buồn buồn, ngường ngượng. May có em An, con gái anh Điềm (Nguyễn Khoa Điềm), đến chơi, nó chọc ghẹo chú chú anh anh không thì buồn chết.
Xem bóng đá chỉ có ba thằng. Ngồi chưa nóng chỗ Bảo Ninh đã nhổm đít ra về, nói tao phải về nhà kẻo mẹ tao buồn, mụ vợ đi vắng, nhà không có ai. Việt Hà không đến được, nghe nói có chuyện gì vợ nó cho tan cái mobile. Chả biết trúng trật thế nào, hay nó chán cái sự đời, ngày nào cũng mấy cái mặt mẹt chán ngắt nhìn nhau. Mấy thằng em làm báo, viết văn máu bóng đá lắm, tự chúng nó rủ rê trước, đến giờ không thấy mặt thằng nào. Lâu lâu lại gọi, chúng nó dạ vâng rối rít, nói em đến đây em đến đây, tóm lại là không đến.
 Mấy thằng bạn quan chức buổi chiều hỏi có đến xem không, chúng nó hồ hởi nói đến chứ đến chứ. Bảo nhớ khuân đến một két rượu tham nhũng của chúng mày nhé, chúng nó cười hì hì, nói xong ngay thôi, chuyện nhỏ như con thỏ. Đến giờ bóng lăn gọi thì ờ ờ rồi rồi. Lát sau chúng nó gọi lại, hốt hoảng như nhà sắp cháy, nói ông ơi chết tôi rồi, các cụ lại gọi đi hầu rượu, xin lỗi nhé, tôi không đến được. Nghe như chúng nó vừa đi đái vừa gọi điện thoại.
Không đến được thì thôi, sao phải dối nhau nhỉ?

3. . Ngoảnh đi ngoảnh lại đã mấy chục năm, thằng nào thằng nấy tóc bạc da mồi, danh phận chẳng khá lên được chút nào, trong khi sức tàn lực kiệt đã thấy rõ. Bạn bè vẫn đấy cả, vẫn thăm hỏi nhau, có việc gì cũng chạy đến lo lắng cho nhau, nhưng vẫn thấy cứ khang khác thế nào a.
Thằng Tiến (Phạm Ngọc Tiến) bây giờ mới lấy lại phông độ, nhậu nhẹt tưng bừng, chứ cách đây một năm buồn thảm lắm. Từ ngày bị tiểu đường nó trầm xuống hẳn, nhậu nhẹt coi như tiệt luôn. Biết nó sợ, giữ gìn là phải, em trai nó chết vì bệnh tiểu đường sao lại không sợ được, nhưng thấy nó ngồi vào cuộc nhậu như cố ngồi cho bạn bè khỏi trách, chứ không còn là một nhu cầu, tự nhiên vừa thương nó vừa chán nó.
Bạn bè già cả rồi, không mệt mỏi cũng ốm yếu, chẳng ra làm sao. Ngày xưa nhậu nhẹt không có mấy thằng hoạt khẩu thì chưa ra nhậu nhẹt. Bây giờ bày mâm nhậu, có ai hỏi đã gọi thằng nọ thằng kia chưa thì thế nào cũng có người nói thôi, gọi làm gì, nó có uống được nữa đâu.
Viết đến đây bỗng nhớ Hải Kì. Xưa không rượu không thơ không ra Hải Kì, vui lắm. Hễ anh ngồi vào mâm rượu nào là làm chủ ngay mâm rượu đó, nói cười ồn ào vui như tết. Gần chục năm vừa rồi, anh ngồi im lặng ngắm người ta uống chứ chẳng nói năng gì. Bảo uống thì giật mình, nói uống đây uông đây, nhấc chén rượu lên là đặt xuống. Gọi điện khi nào cũng bảo tôi đang bận trông cháu. Gặp nhau, bắt tay cái, ngồi uống chưa được nửa ly đã vội cáo lui, nói thôi tôi về với cháu.
Hình như cuộc của chơi tụi mình sắp tàn rồi.

4. Ngày xưa chưa viết đã khoe, viết xong thì chạy khắp làng bắt mọi người đọc. Ai khen được một câu thì sung sướng lâng lâng suốt ngày. Bây giờ thằng nào viết cứ viết, có khoe cũng chẳng ai quan tâm. Có ai hỏi dạo này viết được không, dù đang viết chết xác thì cũng chỉ cười nhạt, nói ờ cũng đang chút chút. Chẳng phải khiêm tốn, chỉ vì không còn hào hứng tí gì  về nghiệp văn của mình nữa.
Đã đến lúc mình nhận ra nghiệp văn thật nghiệt ngã, cả vạn thằng bỏ ra cả cuộc đời, đổ mồ hôi sôi nước mắt viết viết viết, tóm lại chỉ còn lại vài móng. Đó là người ta châm chước cho văn nước chậm tiến, thật sòng phẳng với thế giới chắc chẳng còn móng nào. Nguyễn Du hai trăm năm hãy còn người nhớ tới và yêu mến, mình có được hai chục năm sau khi chết không, chắc không. Nguyễn Trọng Tín nói các ông đừng nhắc đến văn tôi nữa nhé, đừng có mà in đi in lại văn tôi. Tôi đang cố quên đi, sai lầm một thời nông nổi, càng quên thật nhanh càng tốt.
Tín có thơ Mười sáu cuộc chiến tranh, tiểu thuyết Bè Trầm, mình có cái gì nhỉ, than ôi.
5. Cái xứ chi kì, quan tâm đến bao bì là chuyện thường nhưng thiêng liêng hoá bao bì thì có lẽ ở đây chỉ có một. Mỗi lần sang nhà anh Mỹ (Nguyễn Quang Mỹ) chơi, anh cứ nhắc mày làm cái tiến sĩ đi em, mày có mấy trăm giờ dạy rồi, thế nào cũng được phó giấo sư. Ôi giời! Giáo sư giáo seo, nhà văn nhà veo, nhân dân nhân deo... chẳng qua trời hành mà đeo lấy thôi, sung sướng cái gì mà giành giật.
Có thẳng chỉ đau đáu không biết cha Thỉnh ( Hửu Thỉnh) có cho mình cái giải Hồ Chí Minh, giải Nhà nước không. Mồm thì chửi mấy cái giải thối inh, bụng thì nơm nớp lo không đến được phần mình. Có thằng chầu chực chuyện đi Tây, chuyến nào cũng lo không biết báo tây, đài tây, ti vi tây có nhắc đến mình không. Mốt bây giờ hễ được tây nhắc thì mới sang, tây nhắc rồi thì thích lắm, lưu hình lưu báo y chang lưu bảo vật. Nhưng hễ có ai nói tôi nghe đài này đài nọ, báo này báo nọ phỏng vấn ông đấy thì làm bộ uể oải  nói thế à, ừ cũng có mấy thằng nó đến hỏi, mất thời giờ với chúng nó quá. Có biết đâu  thứ tây mà mình  vẫn giao du, đa phần cũng chỉ là lũ cowboy.
Đại hội nhà văn lần thứ mấy không nhớ nữa, anh Phan Vũ khi đó đã 75,76 tuổi, nói tụi bay chơi đâu cho tao đi với. Mình hỏi bạn anh đâu cả rồi, anh nói chết hết trọi... đú má. Mình biết bạn anh còn nhiều, chết sao hết được, nhưng rặt chỉ bao bì không thôi, còn lại thì rỗng không. Bao bì thì tính làm gì, chơi làm gì, phí. Sắp đến cõi rồi, mười ông thì có đến chín ông ngồi lo bao bì sao cho hoàn hảo, hễ ai động đến cái là lồng lên như sói.
            Ừ nhỉ, bây giờ ngoảnh đâu cũng thấy toàn bao bao bì, bạn bè một thuở đâu rồi tá?

Tưởng niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa tại Hà Nội 19/1/2014

Những hình ảnh và vidéo mới nhất
Theo Tin tức hàng ngày

Những hình ảnh thật sống động.















Hình ảnh Lê Anh HùngLô Đề VN

Bài học đầu tiên

Nguyễn Quang Lập 
Hôm qua Huy Đức gọi mình đi nhậu, nó bảo một nơi mình lại nhớ một nơi, tìm gần chết. Chuyện số nhà tên đường mình nổi tiếng là “ thiên tài nhớ lộn”. Chẳng hiểu sao nó bảo 2bis Đinh Tiên Hoàng mình lại nhớ ra 49 Lê Quí Đôn. Đang chống gậy cà nhắc dọc vỉa hè tìm cái quán Hoa Lư , có người đứng chắn trước mặt, nói chào nhà văn. Ngước lên nhìn té ra anh Đoàn, bạn học lớp 5 với mình. Anh kéo vào quán cà phê gần đó, xuýt xoa nhắc đi nhắc lại, nói mi nhớ dai thiệt, gần nửa thế kỉ rồi còn nhớ tên tao.


Ai chứ anh Đoàn có đánh chết mình cũng chẳng quên.

Mình 11 tuổi học lớp 5, ngồi cạnh anh Đoàn 19 tuổi ở cuối lớp. Hồi đó con nít ranh học chung với người lớn là chuyện thường. Anh Đoàn cao to như con gấu đen, anh đến lớp không phải để học mà để ngủ, vì thế bao giờ anh cũng chọn góc phải cuối lớp cho dễ ngủ. Mình con nít nhỏ con thường được ưu tiên ngồi hàng đầu nhưng anh xách cổ mình bắt ngồi gần anh để anh tiện nhìn bài. Anh học dốt cực. Nói vậy cũng chả phải, anh có học hành gì đâu mà bảo học dốt. Ở nhà thì cày cuốc tối ngày, đến lớp anh chỉ có ngủ, hết ngủ thì ngồi vơ vẩn nhìn hai con ruồi.

Rất lạ trong lớp luôn luôn có hai con ruồi, chúng hết đậu vào đứa này lại đậu vào đứa khác. Khi nào có giờ cô C. dạy thì hai con ruồi cứ bay vè vè quanh cô, thi nhau đậu vào ngực cô. Cô C. ngực cực to, cô khoanh tay đặt cả hai tay lên ngực mà không bị chuồi. Tất nhiên anh Đoàn vô cùng háo hức vì cô cũng chỉ bằng tuổi anh. Đến giờ cô dạy là anh căng thẳng theo dõi hai con ruồi, xem chúng có đỗ lên ngực cô hay không. Một hôm cả hai con đỗ lên lên hai lên hai chóp ngực cô cả giờ, cô xua đi, chúng bay lên tí chút lại đỗ xuống, rất vui. Anh Đoàn sướng mê hồn, nói đ. mạ, ruồi rứa mới ruồi chớ. Anh chép miệng xuýt xoa, nói tao mà Tôn Ngộ Không, tao nhổ sợi tóc phát  rồi hô biến, tao biến thành hai con ruồi đậu trên ngực cô, đã đời luôn.  Miệng  anh chóp chép, mắt mơ màng như là sắp được biến thành ruồi, hi hi.

Anh Đoàn suốt ngày bắt mình cho chép bài, cả bài tập lẫn bài kiểm tra, chữ nào đọc không ra anh còn trợn mắt quát, nói mi viết chi ngu ri. Bù lại, anh cho mình xem cu anh. Cứ đến cuối giờ, khi đói rồi chán học rồi, anh Đoàn lại vạch quần cho mình xem. Mình ngắm say sưa cái thứ hoành tráng của anh, nước dãi chảy ướt  cằm quên cả chùi. Ngắm xong rồi ngồi ngẩn ngơ, kéo lưng quần nhìn của mình, thấy nó vô cùng thảm hại, buồn thiu. Cứ vẩn vơ nghĩ ngợi, chẳng biết khi nào mình mới được hoành tráng như anh.

 Bàn trước có chị Bình 16 tuổi, đen thui. Đến tuổi dậy thì chị lớn phổng lên, ngực nở to đùng. Anh Đoàn thích chị Bình lắm, bắt mình làm thơ lục bát để anh chép lại ném cho chị Bình. Ngày nào mình cũng phải vắt óc làm vài câu thơ cho anh Đoàn, chán phát điên. Đôi khi mình nhăn nhó, nói em không làm đâu. Anh lại trợn mắt lên, nói à ha, e thằng ni không muốn xem cu tao à bay. Thế là mình lại cắm cổ làm. Sau này nhớ lại, nghĩ bụng có lẽ mình rất thạo sáng tác theo đơn đặt hàng có lẽ cũng bắt đầu từ cái thủơ ấy, hi hi.

Chị Bình không thích anh Đoàn, coi thường anh ra mặt. Thơ anh Đoàn ném cho chị, lúc đầu chị còn đọc, sau, hễ có cục giấy anh Đoàn ném tới là chị lẳng lặng lùa đi. Anh Đoàn tức lắm, nghĩ ra một mẹo rất kì khôi. Anh vuốt của anh thật thẳng rồi kéo tóc chị cột vào đấy. Chị Bình thấy tóc bị kéo mới ngoảnh lại, mặt chị chợt tái dại. Chị giật  tóc một cái, bỏ chạy ra khỏi lớp, khóc. Chị lấy kéo cắt phứt mái tóc, ném cái phần tóc mắc vào cái của anh Đoàn xuống hố rác, ngồi khóc tu tu. Mình thấy lạ quá, tóc cột cu thì có gì mà phải khóc nhỉ?  Mình hỏi đi hỏi lại chị Bình câu đó, chị cho một bớp tai nảy đom đóm, trợn mắt quát to, nói ngu, ngu lắm. Từ lớp 1 đến lớp 5 chưa có ai chê mình ngu, chỉ có chị Bình. Mình tức lắm, cứ ngồi mơ bao giờ của mình hoành tráng như anh Đoàn để mình cột tóc chị Bình, cho chị khóc cho hay. Hi hi, ngu thế không biết.

Bây giờ anh Đoàn đã gần bảy mươi nhưng vẫn còn khoẻ mạnh linh lợi lắm. Anh có xưởng mộc hơn ba chục công nhân, chuyên cung cấp đồ nội thất cho dân xây dựng, chưa bao giờ ế hàng. Anh cũng ô tô nhà lầu như ai, rất đáng nể. Mình hỏi anh vợ con thế nào. Anh cười, nói một số vợ, hơn chục con. Mình trợn mắt há mồm, nói một số vợ a. Anh gật đầu nói ba vợ, hai mụ Việt ở quê, một mụ Tây hồi đi buôn ở Đức tao na về, nay ở Sài Gòn với tao. Nghe thế thì mình ôm bụng cười rũ, anh ngạc nhiên nói cười cái chi, mi cười cái chi. Mình chẳng nói, cứ cười. Chẳng qua là mình nhớ cái bài học đầu tiên của anh.

Anh Đoàn học hết lớp 5 thì bỏ, đi học lái máy cày. Ỷ thế bạn học của anh, mình vẫn chạy ra đồng xin anh cho ngồi máy cày, anh cho ngồi suốt buổi, sung sướng tự hào lắm. Minh hỏi lái máy cày có khó không? Anh nói khó chi, chỉ cần học lớp 1 là lái được, tao học đến lớp 5 phí đi. Một hôm anh sai mình chạy về nhà lấy cơm đưa ra cho anh. Mình nhác, không đi. Anh nói mi về lấy cơm ra đây rồi tao cho xem cái bướm. Tất nhiên mình chạy ù về lấy cơm cho anh ngay. Tưởng anh cho xem thật, nhưng không, anh vẽ hình tam giác lộn ngược, chấm cái ở giữa, nói đó, rứa đó. Mình hỏi tại sao lại chấm cái chấm ở giữa? Anh Đoàn nói phải vẽ rứa mới giống. Mình không chịu, nói nhưng cái chấm đó là cái chi? Anh nhăn răng cười nói để khi nào cưới vợ tao hỏi vợ tao đã, trước nay toàn thấy người ta vẽ thế thôi.

Mấy hôm sau gặp mình anh khoe, nói tao thấy cái bướm rồi. Anh kể anh tham gia đội là dân quân của làng, vừa bắt được một nữ phi công Tây, chẳng biết người nước nào, nghe nói phi công Úc.  Đội trưởng dân quân cho người lên huyện đội báo. Anh với mấy người nữa giải nữ phi công về nhà kho hợp tác canh chừng. Đợi từ trưa đến chiều tối vẫn không thấy huyện đội về, mấy anh dân quân ngồi ngáp ngắn ngáp dài. Một anh nói con ni to thế này, chắc đồ của nó to lắm, cởi ra xem cái đi. Lập tức tất cả các anh đều hưởng ứng, họ hè nhau đè cổ nữ phi công cởi quần. Nữ phi công sợ quá, mặt trắng bạch, lạy như tế sao, ra sức lăn lộn, không cho. Chắc bà tưởng mấy ông thổ dân này sắp mổ bụng ăn thịt mình. Mấy anh chĩa súng hiệu bà nằm im, bà sợ quá nằm im thin thít. Anh Đoàn và các anh dân quân chắp tay sau đít đi đi lại lại ngắm nghía nhưng chẳng thấy gì ngoài đám lông phủ lên tận rốn. Một anh bẻ cành phi lao khều khều đám lông, vẫn chẳng thấy gì.

Chẳng biết anh kể  thật hay bịa, chỉ  nhớ khi kể đến đó thì chép miệng gật gù, nói tao rút ra bài học rồi. Mình nói bài học chi. Anh nói bướm Đế quốc thực dân rất chi là ghê tởm, mình nên tránh xa. Mình nhắc chuyện này cho anh, nói tưởng anh rút ra bài học rồi thì tránh lấy vợ tây. Anh cười khì khì, nói thằng ni nhớ dai gớm bay.

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Thằng bạn “ quái thai”



Nguyễn Quang Lập 
Sáng nay đọc báo, một phụ nữ 25 tuổi người Bắc Brazil sinh một cháu bé có hai đầu. Nhìn cái ảnh thấy ghê ghê, nghĩ bụng không biết sau này hai cái đầu có nghĩ giống nhau không nhỉ. Nếu nghĩ khác nhau, mà chắc là khác nhau, thì bỏ mẹ, hi hi. Chợt nhớ đến thằng Túc, bạn học thời phổ thông với mình, nó hay nói tao có hai cái đầu, một đầu tử tế một đầu bố láo, rứa mới điên.


Thằng Túc nhỏ nhắn trắng trẻo xinh xắn.Mình sơ tán lên làng Đông, lên lớp 5 mình học cùng lớp với nó cho đến năm lớp 10. Thằng Túc người làng Pháp Kệ, nhà nó một cha một con, buồn thiu. Cha con ít khi nói chuyện với nhau. Nó kêu bố nó bằng cậu, nói sáng tao đi học thì cậu tao chưa dậy,tao học về cậu tao đã ngủ trưa. Tao ăn xong ngủ trưa đến ba giờ chiều mới thức cậu tao ra đồng tối mịt mới về, khi đó tao đã nhảy đi chơi, chín mười giờ đêm tao về nhà cậu tao đã ngủ. Xong om. Nhưng rứa lại càng thích, trong làng tao là đứa duy nhất không bị cha đánh đập, mắng chửi, cực sướng.

 Nó học giỏi, giải toán nhanh như chớp, phải cái tính nó bộp chộp, bài kiểm tra nào cũng thấy nó sửa chữa dập xóa be bét, chẳng có bài nào nó được điểm cao. Nó nhỏ nhất lớp cũng là thằng nghịch nhất lớp, ngày nào nó cũng bày ra một trò gì đó để mà cười. Lớp 5 cả lớp đang học, nó bò dưới ghế, lén cột tóc hai đứa con gái ngồi kề nhau, vẽ bậy bạ rồi móc vào tóc dán vào lưng áo con gái. Bọn con gái chửi nó như điên, nó cũng mặc kệ.

 Một hôm kiếm đâu được con chuột chết, nó lén cột đuôi chuột vào tóc chị Lê. Giờ ra chơi, chị Lê đứng dậy, thấy con chuột chị sợ quá hét ầm lên bỏ chạy quanh lớp. Càn chạy con chuột càng đánh vào người, chị hét lên một tiếng, nói cha tổ mi Túc ơi, rồi ngất xỉu.Tưởng thằng Túc sợ, bỏ luôn trò chơi bậy bạ kia, té ra không, nó ra sức kiếm chuột chết cột tóc con gái. Bọn con gái xúm lại túm tóc nó đánh cho một trận thừa sống thiếu chết.

Thằng Túc có máu liều, thích thì chết nó cũng chơi, không sợ. Một hôm mình kể có thằng Toàn làng Phù Lưu ăn ớt rất tài, nó ăn ớt như ăn kẹo. Sáng nào đi học thằng Toàn cũng bỏ đầy một túi ớt mọi ( ớt chỉ thiên), ngồi học thỉnh thoảng nó moi ra một hai quả ớt nhai bỏm bẻm như nhai kẹo cao su vậy. Nó bảo ăn ớt để chống buồn ngủ. Mình rùng mình, nói mi không thấy cay à? Nó bảo không cay, ngon, cực ngon luôn.  Thằng Túc không tin, cười chê mình nói láo. Thằng này có cái cười hay lắm, mỗi khi cười mũi nói chun lại, miệng nhọn xòe ra y chang cái đít gà, hi hi. 

Mình dắt thằng Túc đến nhà thằng Toàn, nói mi ăn ớt cho hắn coi, hắn nói tao nói láo. Thằng Toàn vào nhà bưng ra cạu ( rá nhỏ) đầy ớt mọi, bốc một nắm bỏ mồm nhai trước mặt thằng Túc, nhai như nhai khoai sống không hề hít hà. Thằng Túc chun mũi nhọn mồm cười, nói đồ ẻ. Rồi nó thản nhiên bốc một nắm ớt bỏ mồm nhai liền. Mình nhớ như in cái mặt đỏ rực của thằng Túc khi đó, hai tai cũng đỏ nhừ như ớt chín, mắt nó phồng lên như sắp nổ, nước mắt trào như suối, cả nước mũi nữa, cũng trào ra như suối. Thằng Túc cố nhai cố nuốt, cơ chừng không nuốt nổi nó khạc ra cả, vừa khạc vừa ho, nó ôm đầu lăn lộn ho ho khạc khạc. Mình và thằng Toàn ôm nhau cười. Thằng Túc bỗng chồm dậy cun mũi nhọn mồm, nói đồ ẻ, rồi lại bốc một nắm ớt bỏ mồm. Sau trận đó nó phải đi cấp cứu, cái mồm nó rách toác sưng vù. Kinh. Không ai liều như thằng này.

 Chẳng ngờ cái máu liều ấy thằng Túc nuôi mãi cho đến già.

Nó thi trượt đại học, vào trường Trung cấp sư phạm Quảng Bình, được ba tháng thì bị đuổi học. Một buổi chiều nó lùa hết ba dây áo quần đang phơi của bọn con gái, ôm ra chợ Cộn bán, bị tóm ngay tại trận. Hai chín tết năm đó mình gặp nó ở chợ Ba Đồn, chưa kịp hỏi nó đã khoe ăn cắp bị đuổi học. Mình nói răng mi ngu rứa. Nó mũi chun mồm nhọn, nói tao phát hiện ra rồi, chỉ ăn cắp là nhất, nghề đó khỏe lại mau giàu. Mình nói mi điên à, mi có điên không Túc. Nó chun mũi nhọn mồm cười, nói tao là thằng quái thái mà, mi không biết à. Nhìn cái mồm nó nhọn xòe như cái đít gà vừa buồn cười vừa ghét.

Sáng mồng một, nghe dân Thị trấn kháo nhau, nói có một bọn ăn cắp Cửa hàng tổng hợp. Đúng giao thừa, chúng leo lên tháo mái ngói cửa hàng tổng hợp, cưa rui mè một ô chừng một mét vuông, chui xuống lấy cả chục chiếc xe đạp Phượng Hoàng. Đoán là thằng Túc làm bậy, mình chạy lên Cửa hàng tổng hợp, vừa lúc công an đang đẩy nó lên xe. Nó nhìn thấy mình liền vẫy vẫy, nói Lập Lập đi nha đi nha, rồi cười, mũi chun mồm nhọn. Nhìn cái mặt hơn hớn của nó y chang nó chào mình đi học nước ngoài, mình thực nghĩ không ra vì sao nó lại ra nông nổi ấy.

Từ đó đến chục năm sau mình không gặp nó lần nào, chỉ nghe bạn bè kể nó bị bắt bỏ tù ba bốn lần gì đấy, tất cả chỉ vì tội ăn cắp, toàn ăn cắp của Nhà nước. Năm 1987 mình gặp thằng Hòa bạn học cùng lớp thời phổ thông với mình và thằng Túc, cũng người làng Pháp Kệ. Mình hỏi thằng Hòa, nói mi có biết tin tức gì thằng Túc không. Thằng Hòa nói không, chẳng đứa nào biết cả. Chắc nó bây giờ cũng tu tỉnh lo làm ăn rồi, không lẽ ăn cắp suốt đời. Chẳng dè tết năm sau, mình đem vợ con từ Ba Đồn vào Huế, vừa lên xe đặt đít ngồi bỗng có tiếng gọi rất vui vẻ, nói ê Lập. Mình ngoảnh lại thấy thằng Túc, nó đang chun mũi nhọn mồm cười.

Thằng Túc ngồi sau mình hai hàng ghế, mình nhoài người bắt tay nó, nó lắc đầu và dơ lên hai tay bị còng của nó. Té ra nó trốn tù chạy về quê, chưa kịp ngủ nhà một đêm đã bị bắt. Cả xe nhìn nó như nhìn thằng hủi, nó tỉnh bơ cười cười nói nói, còn khoe với hai công an áp giải nó, nói Nguyễn Quang Lập đó, học với tui từ lớp 5 đến lớp 10, hồi nhỏ thân nhau lắm. Bây giờ hắn viết báo viết văn còn tui ăn cắp, mỗi người một nghề, rứa thôi. Mình vừa thẹn vừa thương nó, đành ngồi im chẳng dám nói gì.

Xe dừng Đồng Hới lấy xăng, cho hành khách đi ăn sáng. Mình mua bát phở mời nó, năn nỉ hai ông công an mở còng cho nó ăn. Hai ông công an nhìn mình rất khinh bỉ, nói nhà văn nhà báo mà cũng  bạn bè với loại này à. Đang nịnh họ để họ động lòng tháo còng cho nó, dù tức lắm mình cũng cố nín nhịn. Thằng Túc được tháo còng, nó vừa ăn vừa nói cười như không, nói bây giờ tao ăn ớt được rồi, không tin mi kiếm ớt đưa đây. Đồ ẻ, tao ăn cả cạu, không thèm ăn một nắm như thằng Toàn mô.

Hơn hai chục năm sau, mình lại gặp thằng Hòa, nó bây giờ là ông đại tá về hưu. Nó bảo thằng Túc bây giờ ở Vũng Tàu, một vợ hai con nhưng đói khổ lắm. Vợ nó là con gái một đại ca đạo chích, thấy thằng Túc ăn cắp giỏi mới gả con gái cho. Thằng Hòa gọi máy cho mình nói chuyện, nghe tiếng mình, thằng Túc cười nói rất to, nói tao vừa xem cái kịch của mi trên ti vi, đ. mạ hay gớm. Mình hỏi mi bây chừ làm chi, nó cười hì hì, nói rứa thôi rứa thôi. Rồi ngâm nga, nói đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Năm mới thắng lợi mới nha nha, ha ha ha.

Mình ngồi thừ chẳng biết nói gì. Bây giờ đang viết những dòng này, cái mũi chun mồm nhọn của nó đang vật vờ trước mặt.

Đèn ông sao



Nguyễn Quang Lập 
Con nít đứa nào chẳng thích đèn ông sao, riêng mình thì mê tít. Đối với mình đèn ông sao có cái gì rất thần bí. Ngọn đèn nhỏ le lói tỏa ánh sáng mờ ảo phía sau lớp giấy bóng màu mới bí hiểm làm sao.

 Mê đến nỗi  năm sáu tuổi một đêm nằm chiêm bao thấy mình ngồi khóc ti tỉ.  Bụt hiện ra, nói vì sao con khóc. Mình nói con thích đèn ông sao. Bụt phẩy tay một phát, cả ngàn đèn ông sao bỗng đổ về bay lượn quanh mình. Mình sướng ngất hét lên, vùng chạy ra khỏi nhà, vừa chạy vừa hét a a a, đèn ông sao đèn ông sao. 


Ba mạ mình sợ hết hồn, tưởng là mình mắc bệnh mộng du. Anh Huy chaỵ đuổi theo chụp cổ lôi vào nhà, nói mi chạy đi mô. Mình tẽn tò cười trừ, nói em mơ thấy đèn sao. Cả nhà mình cười rũ, mạ mình cũng cười nhưng mình nhác thấy bà lén chùi nước mắt.

Lên bảy tuổi mình vào lớp 1, mạ mình dắt đến lớp, nói học giỏi rồi mạ mua cho cái đèn ông sao. Cuối năm mình cầm giấy khen chạy ù về nhà đưa cho mạ mình, nói mạ nhớ mua cho con cái đèn ông sao. Mạ mình xoa đầu khen giỏi, nói ừ, đến tết Trung Thu mạ mua cho. Tám hào một cái đèn ông sao, bằng học phí một tháng học, món tiền đó nhà mình không phải lúc nào cũng có sẵn. Nghe mạ mình hứa vậy mình mừng hết lớn, gặp đứa nào cũng khoe, nói Trung Thu này tao có đèn ông sao.

Còn hai ngày nữa là đến tết Trung Thu, Cửa hàng tổng hợp Thị trấn đã bày bán bánh Trung Thu và đèn ông sao. Bánh Trung Thu mình không dám mơ nhưng đèn ông sao thì hy vọng tràn trề, nghĩ bụng thế nào mạ cũng mua cho. Nhưng không, mạ mình không có tiền bà đánh bài lờ. Mình khóc như cha chết. Mạ mình sai anh Huy làm cho mình cái đèn ông sao, nó vừa xấu vừa không có đèn, mình chê không lấy. Mạ mình ôm mình dỗ, nói thôi năm sau, Trung Thu năm sau mạ mua cho, mạ hứa thiệt. Mình dậm chân hét lên, nói không không không.

Ba mình nói mạ mi chạy sang nhà bác Thông mượn tám hào mua cho nó. Đã hứa với con thì phải mua. Mạ mình lườm ba mình, nói anh ni e điên, tiền không có mua gạo lại đi mua đèn ông sao. Nói xong thì bà khóc. Đến bữa mình lẫy không ăn, ra sau hồi nhà ngồi khóc ti tỉ, ai dỗ thế nào cũng không chịu vào ăn.

Chị Nghĩa đi ra dỗ, nói vô ăn đi. Tối chị đi diễn kịch có tiền chị cho tám hào. Mình tin ngay. Chị Nghĩa không bao giờ nói dối, chị thương mình nhất nhà. Xin gì chị có là cho liền, không tiếc. Tết vừa rồi chị cho mình ba đồng mua cái áo. Chị vào đội văn công Thị trấn chuyên giới thiệu và hò mái nhì trước khi diễn kịch, mỗi tối được tám hào.

 Chị đẹp, hát hay nhưng diễn kịch không được. Người ta tuyển chị để làm giới thiệu và hò mái nhì khai mạc vở diễn. Hồi này đội văn công Thị trấn diễn đi diễn lại có hai vở: Thoại Khanh- Châu TuấnPhạm Công-Cúc Hoa, vở nào vở nấy dài ngoẵng, con nít xem được nửa vở là chạy về nhà ngủ, chịu không thấu. Tối nào diễn kịch mình cũng đến xem, nghe điệu hò mái nhì của chị Nghĩa, hết hò màn được kéo ra, chị Nghĩa thướt tha bước ra giới thiệu, xong là mình về.

Tối đó mình quyết xem cho hết vở, đợi chị Nghĩa lấy tám hào bồi dưỡng để  ngày mai mua cái đèn ông sao. Tối mai là rằm Trung Thu rồi. Mình ngồi xem với ba đứa con gái cùng xóm cùng học lớp 1 với mình- con Bình Mại, con Bình Đái Lùn và con Lý, ở nhà gọi là con Xồm.

 Chuẩn bị mở màn chị Nghĩa hò mái nhì. Mình vênh mặt phỗng mũi nói chị Nghĩa tao hát đó.  Hai con Bình nhìn mình rất ngưỡng mộ, nói hay hè hay hè, chị mi hát hay hè. Con Lý vằn mắt lên, nói chà, ai nỏ biết chị mi hát hay, khoe chi khoe lắm. Hi hi con này ghê lắm. Ai chọc nó là nó chửi cho điếc tai luôn. Bọ nó là ông cu Mường, chỉ cần mình mở mồm nói mờ mờ là nó cầm đá rựợt đuổi mình vừa ném đá vừa chửi, nói vơ con ông cu Đạng nời, ai chọc chi mi răng mi chửi bọ tao. Mình vừa chạy vừa ngoảnh lại nói mờ mờ, nó chửi càng hung đuổi theo ném đá càng dữ. Đến khi chân đau miệng mỏi nó đứng khóc giữa đường, nói cha cố tổ con ông cu Đạng nời, khan cổ tao rồi, ác chi ảc rứa.

 Bây giờ mỗi lần về quê mình lại vào quán của nó, nhớ lại chuyện xưa mình bật cười, Nó lườm mình, nói cười chi tao rứa mi. Mình dẩu mồm nói mờ mờ, nó nhăn răng cười hi hi, nói thằng ni nhớ dai gớm.

Xem được nửa vở thì mình ngủ, tỉnh dậy thấy người ta về hết rồi, mỗi mình nằm chỏng queo trên bãi cỏ. Mình vội chạy ù về nhà, sợ ma gần chết. Cả nhà đã ngủ, chị Nghĩa cũng đã ngủ. Mình đập chân gọi chị dậy, nói tám hào của em mô. Chi nói đội chưa phát, để mai đội phát chị đưa cho. Ngày mai chị Nghĩa lên xuống đội mấy lần vẫn không nhận được tiền, chẳng hiểu vì sao.  Mình khóc hết nước mắt thôi, chẳng biết làm thế nào.

Nỗi buồn rồi cũng nguôi ngoai, dù gì thì Trung Thu cũng đã đến không thể buồn mãi được.. Học trò ba mình mang đến tặng cái bánh trung thu, bốn anh em giành nhau ăn. Ăn hết thì ngồi mút ngón tay chờ trăng lên kéo nhau ra đường ngóng trăng. Tập trung ở cầu Phôốc trước nhà mình  sáu bảy đứa cùng lứa: thằng cu Cải, Thằng Đại Phúc, thằng Lợi Vao, thằng Dũng Ấm Đường, thằng Lộc Đóc Soa và mình gọi là Lập Hai Da. ( Vì mình có cái bớt nâu ở bắp vế).
 Cả lũ vừa ngửa mặt trông trăng vừa đi thụt lùi xem trăng có chạy theo mình không rồi cãi nhau ỏm tỏi, nói trăng chạy theo tau bay ơi!- Ê ê láo láo, trăng mà chạy theo mi, trăng đứng một chỗ đó tề- Mi láo thì có, trăng chạy theo tao-  Thằng ni ngu chi ngu tàn bạo. Trăng ở trên trời, thấy mi mô mà chạy theo- Ẻ vô cãi nhau với mi nữa.

 Nhà thằng Lộc Đóc Soa giàu nhất xóm. Nó có chiếc xe đạp nhỏ xíu. Chiều nào nó cũng đạp xe dạo quanh xóm. Tụi mình chạy rật rật đuổi theo, nói cho tao đi một đoạn với Lộc nời- Vơ Lộc cho tao đi một đoạn với mi- Thằng ni lấc gớm bay, ai nỏ biết mi có xe đạp. Cuối cùng nó cũng cho mỗi thằng đi một đoạn. Leo lên xe đạp sướng râm ran, có khi còn sướng hơn ông Phạm Tuân lên tàu vũ trụ hi hi.

Trung thu nào cũng vậy, chỉ có thằng Lộc là có đèn ông sao. Đợi dài cổ  cuối cùng thằng Lộc cũng cầm đèn ông sao chạy ra. Nó cầm đèn đi đầu, cả lũ đi sau nó. Đứa nào đứa nấy mặt mày vênh váo y như mình đang cầm đèn ông sao vậy. Gặp mấy đứa con gái cùng xóm đứng bên đường thì trợn mắt dẩu mỏ, nói ê ê đồ không có đèn ông sao, xấu xấu! Hai con Bình, Bình Mại và  Bình Đái Lùn, nhìn tụi mình chảy nước miếng ướt cổ, mắt mày như sắp khóc, nói mai bọ tau cũng mua cho tau tề. Tụi mình cười vang, nói ê ê láo láo, mai hết trung thu rồi mua làm chi. Con Lý nhảy chồm chồm, nói cha tổ bay đồ vô duyên, đèn thằng Lộc chớ đèn mô của bay mà khoe! Cút cha tụi bay đi.

Cả lũ không chấp vừa đi vừa nói cười râm ran, Thằng Lộc cho một thằng cầm đèn một đoạn, lại sướng râm ran, có khi còn sướng hơn ông Trần Quang Thận cầm cờ cắm lên Dinh Độc Lập he he.

 Đượt lượt mình được cầm đèn, mình hung hăng cầm đèn quay vòng, nói như  ta đây là  Quang Trung Đại phá quân Thanh.  Rồi mình vọt lên ù chạy, hô xung phong!… Sát Thát Sát Thát! Cả lũ chạy đuổi theo hét vang sát Thát sát Thát. Nào có biết Quang Trung là ông nào, quân Thanh là ai, sát Thát là cái gì, cả lũ mặt mày phừng phừng lao tới, tưởng như sắp giết được cả ngàn quân giặc.

Bỗng mình vấp ngã, cái đèn rơi ra, lửa bén vào lớp giấy dán cháy bùng. Ba bốn đứa nhảy vào lấy chân dập lửa, cái đèn nát tan. Mình chết điếng. Thằng Lộc sững sờ cầm cái đèn rách lên ngẩn ngơ nhìn. Nó đập cây đèn lên đầu mình, nhảy vào đấm đá mình túi bụi, nói cha tổ mi vơ Lập nời, răng phá cái đèn của tao. Nó vừa đấm đá vừa khóc.

 Mình đứng yên cho nó đấm đá, không kêu khóc không chống cự. Mình thương nó vô cùng. Chưa khi nào mình thương thằng Lộc như đêm Trung Thu năm mình bảy tuổi.

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

Về Anh Cu Bịp của Nguyễn Quang Lập

Nguyễn Trần Sâm 
Trong các truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập, Anh Cu Bịp là truyện khá đặc biệt. Rất khó gọi tên tính chất đặc biệt của nó, nhưng đại loại là thế này. Vẫn là phong cách và chất liệu ngôn ngữ Bọ Lập, vẫn đậm chất trào lộng, với những nhân vật có những hành vi kỳ quặc, và ẩn sau đó vẫn là những suy tư, day dứt, nhưng ở đây tính chất gây cười có vẻ ít hơn, còn những suy tư, day dứt, thậm chí nỗi đau đời, thì nhiều hơn hẳn so với những truyện khác.


Sự tồn tại của anh cu Bịp trong truyện và những anh cu bịp ngoài đời, trong đó có cả những anh cu bịp đã “thành thánh”, than ôi, là một thực tế vô cùng đau xót ở xã hội ta!

*
Có thể chia truyện ngắn Anh Cu Bịp thành hai phần. Phần đầu nói về những trò lừa đảo thông thường, những tiểu xảo của anh cu này để kiếm ăn. Chiêu lừa thường dùng của anh ta được Lập tả như sau:

“…đến làng nào cũng nghe một trường hợp bị lừa như nhà mình. Anh cu Bịp tung tin ai đó bị chết rồi giả đò đóng vai người cùng đơn vị với người đó về gia đình báo cho gia đình biết người đó còn sống. Thế là chuột sa chĩnh gạo, anh được ăn uống đãi đằng và ôm một mớ tiền đóng quà của người nhà gửi cho người đó rồi biến thẳng. Chẳng ai biết anh ở đâu tên gì, người ta gọi đại là thằng cu Bịp.”

Sau một thời gian (như Lập nói là 10 năm), Lập gặp lại Bịp và chứng kiến một chiêu lừa khác. Và chính vì định vạch mặt Bịp mà Lập bị rơi vào thế bất lợi, bị người chung quanh khinh bỉ. Nhưng lúc đó Bịp vẫn còn là kẻ lừa đảo hạng tầm thường.

Trong phần hai của truyện, Bịp đã trở thành “bậc thánh nhân”!

Lại vẫn 10 năm sau (“khỉ thế!”), Lập đến một nơi “bậc thánh nhân” ấy đang “cứu độ chúng sinh” bằng cách “chữa bệnh” cho mọi người. Lập tả:

Mình tới đình làng sửng sốt thấy cả mấy trăm người, không, có khi cả ngàn người, ngồi chật kín sân đình, trong khi phía ngoài mọi người đang lũ lượt kéo tới ... Thánh là thiên sứ nhà trời chỉ về đây đúng một ngày đêm… Nhác trông mọi người ai nấy mặt mày nghiêm trọng, thành kính ngồi thành hàng lối chờ đến lượt thánh gọi vào, tuyệt không ai gọi to nói lớn, hết thảy đều thầm thầm thì thì, rất kinh...
...Phải ngồi đây chờ khi thánh gọi mới được vào, dù anh là gì đi nữa nếu thánh không gọi cũng không được vào.”

Nhân lúc có người ra vào, Lập ghé mắt nhìn và phát hiện ra Thánh chính là anh cu Bịp!

“…Mình liều nhảy đại vào, nói này anh cu Bịp, anh còn dám bịp cả mấy trò này à? Tưởng anh cu Bịp giật mình nhảy tót ra khỏi hậu cung. Ai dè anh vẫn mắt nhắm nghiền, tay cầm nén nhang, miệng lẩm nhẩm khấn như không hề có chuyện gì xảy ra.

Kế đó, Lập bị hai ông già lôi ra, mặc dù cố giải thích mình đang cần vạch mặt kẻ lừa đảo.

Bỗng có người nói thánh gọi thánh gọi, ngoảnh lại thấy anh cu Bịp đang tươi cười vẫy vẫy, nói vào đây con vào đây con. Mình đi tới, hai ông già ấn mình quì xuống, đặt vào tay mình bát nước lạnh, nói ngửa mặt nhắm mắt nghe thánh truyền. Mình cũng ngửa mặt nhắm mắt xem anh cu Bịp giở trò gì. Chẳng biết anh nói gì, làm gì, khoảng một phút sau anh ghé tai mình rít lên khe khẽ, nói cút cha mày đi cho tau làm ăn, không tao bảo dân xé xác mày ra. Mình mở mắt, anh cu Bịp đang cầm nhang tay khua miệng  khấn, dáng điệu uy nghi như thánh nhập trần.

Ngay sau đó mình bị tống cổ ra khỏi hậu cung…

Cao trào của câu chuyện có lẽ nằm ở câu: “Không, tao bảo dân xé xác mày ra.” Và cô đọng hơn nữa là ở ba chữ: “Tao bảo dân”.

Đó chính là bi kịch đau đớn nhất của xã hội ta: Kẻ lừa đảo, vốn không tài cán gì, chỉ có một chút trí khôn đủ để lừa những con người ngây thơ, cả tin, và chút trí khôn ấy được hắn sử dụng triệt để vào mục đích đó. Và đám quần chúng ngây thơ trở thành tay sai, thành công cụ của kẻ chuyên đi lừa, với những chiêu bây giờ có phần mang tính nghệ thuật, và thậm chí khoa học! Kẻ lừa đảo trở thành “thánh” trong mắt quần chúng. Quần chúng ngưỡng mộ hắn, trung thành tuyệt đối với hắn, sẵn sàng làm theo mọi mệnh lệnh của hắn, kể cả xé xác đồng loại. Anh là người hiểu biết, tỉnh táo ư? Anh muốn giúp quần chúng nhận ra bộ mặt thật của hắn ư? Hãy từ bỏ ngay ý định, nếu không muốn những người bà con của mình – vốn hiền lành – xé xác!

Khi đa số quần chúng bị thao túng bởi những thánh giả đó thì thánh thật có khi bị nhận diện là ma quỷ, là tội phạm.

Một câu hỏi lớn (và đau đớn): Vì sao? Vì sao kẻ gian tà không mấy thông minh hiểu biết có thể lừa được dân chúng một cách “ngoạn mục” như vậy?

Trước hết, đó là do sự ngây thơ cả tin của dân chúng. Nhưng không phải chỉ có vậy. Không ít những người khá thông minh, thậm chí cả một số người học rộng tài cao cũng bị cuốn vào vòng u mê đó.

Vậy phải có một cái gì đó làm người ta tin chứ?

Đúng vậy. Con người ta thường không nhận thức hết được khả năng của chính mình, và do đó khi gặp một điều may mắn thì thường cho rằng do ai đó đem lại cho mình. Sống trong những chế độ lạc hậu, người ta có thể phải làm cật lực mà vẫn không đủ ăn trong nhiều năm: thiên tai, địch họa có thể cướp đi hết sạch. Và nếu bỗng nhiên có những năm tháng đủ ăn, kèm theo việc tầng lớp thống trị có vài động thái nới lỏng chút ít sự cai trị hà khắc, người dân sẽ cho rằng miếng ăn của họ là do ơn trên ban xuống. Cho nên mới có chuyện mọi thứ đều là của vua ban. Ở một chế độ độc đảng thì hạnh phúc là do lãnh tụ và đảng cầm quyền mang lại. Và lãnh tụ tự nhiên được dân phong thánh, đặc biệt khi lại biết nói những lời mị dân!

Trong trường hợp “thánh” chữa bệnh bằng “nước thánh” (hoặc những thứ tương tự), trên thực tế là có một số, thậm chí không ít, những người bỗng nhiên khỏi bệnh. Họ khỏi không phải vì “ngấm” các loại thuốc đã uống trước khi gặp được “thánh”. Nguyên nhân chính của việc khỏi bệnh là yếu tố tâm lý. Người ta không biết được rằng chỉ một niềm tin là mình sẽ khỏi bệnh trong nhiều trường hợp sẽ làm người ta khỏi bệnh thật sự. Đây là một hiện tượng vô cùng bí ẩn, khó lý giải, nhưng hoàn toàn có thật, mà đa số không hề biết đến. (Việc những người theo các môn phái tu hành thường vô bệnh tật chính là dựa vào niềm tin như vậy. Tất nhiên, không thể dùng niềm tin để chữa ung thư giai đoạn cuối; mà cũng không ai khi đó còn có niềm tin như vậy.) Do không biết điều đó, và do tâm lý thích dựa bóng, người ta coi điều may mắn vừa có được chính là do kẻ đang lớn tiếng hô hoán về việc làm ơn kia mang lại.

Nói như vậy thì thánh giả cũng có công theo một nghĩa nào đó. Đó là cái công tạo niềm tin. Chỉ có điều cái tội lại nhiều hơn, bởi nó hướng niềm tin của mọi người không phải vào khả năng tự nhiên của họ, mà hướng vào chính hắn, để được mọi người trả ơn.

Nhưng tôi tin rằng, tất cả những thánh giả đó đến lúc nào đó sẽ hết vận đỏ, và khi đó thì sẽ bị phạt thê thảm!

*
Trở lại với Anh Cu Bịp của Nguyễn Quang Lập. Tôi sẽ không ca ngợi cái tài của Bọ. Chỉ xin nói: mặc dù đã nghĩ ngợi nhiều về những điều tôi đã trình bày ở trên, từ khi đọc Anh Cu Bịp, tôi gần như bị “ám” bởi hình tượng anh cu Bịp đó. Ngày nào cũng nhớ đến hình ảnh “thánh” ghé tai Lập “rít lên khe khẽ, nói cút cha mày đi cho tau làm ăn, không TAO BẢO DÂN xé xác mày ra.”

Tác giả gửi Quê Choa